Trồng và chăm sóc hoa lan

Cung cấp kiến thức về kỹ thuật trồng và chăm sóc các loại hoa lan.

Cát lan - Cattleya Labiata

Cattleya Labiata - The Queen Of The Flower, xứng đáng với tên gọi Nữ hoàng của các loài hoa bởi vẻ đẹp, hương thơm, tuổi thọ và kích cỡ hoa.

Lan Hoàng thảo - Dendrobium

Là chi lan lớn thứ hai của họ nhà lan, là loại lan phổ biến nhất trong giới chơi lan.

Địa lan - Cymbidium

Địa lan luôn làm người chơi lan hài lòng bởi vẻ đẹp cao sang của chúng

Lan Vũ nữ - Oncidium

Vũ nữ còn được gọi là Dancing Lady, một loại lan dễ trồng và chăm sóc, cho hoa đều đặn hàng năm

Lan Hồ điệp - Phalaenopsis

Lan Hồ Điệp luôn được nhiều người mua trong dịp Tết Nguyên Đán

Lan Hài - Paphiopedilum

Lan Hài luôn cho người trồng những bông hoa đẹp và lạ

Vân lan - Lan Vanda

Khả năng cần nhiều ánh sáng, chịu nắng nóng có lẽ Vanda là loài tốt nhất, có lẽ vậy nên hoa Vanda luôn có màu sắc đẹp

Lan rừng

Có nhiều điều thú vị, nơi đây nói chung về các loại lan không có trong các nhóm kia

Thứ Bảy, 4 tháng 11, 2017

Hoàng thảo vạch đỏ - Dendrobium ochraceum

Hoàng thảo vạch đỏ - Dendrobium ochraceum

Ra hoa vào tháng 5 - 6. Hoa màu vàng, đường kính 4 - 5 cm. Tái sinh bằng chồi và hạt. Mọc bám trên các cây gỗ lớn trong rừng, ở độ cao 300 - 700 m.

Tên Việt Nam: Lan hoàng thảo vạch đỏ
Tên Latin: Dendrobium ochraceum
Đồng danh: Dendrobium ochraceum De Wild. 1906.
Họ:  Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Cây phụ sinh

Đặc điểm nhận dạng: Lan phụ sinh. Thân dài 40 - 45 cm, hình trụ, dầy 0,6 - 0,8 cm, lóng dài 2 - 2,5 cm. Lá hình mác hoặc thuôn, đỉnh 2 thùy tù lệch, dài 7 - 9 cm, rộng 1,7 - 2 cm. Cụm hoa bên 1 hoa, ít khi 2 hoa. Lá bắc dài khoảng 0,8 cm. Hoa màu vàng, đường kính 4 - 5 cm. Các lá đài và cánh hoa quăn, hình mác, đỉnh nhọn, dài 2,5 - 2,7 cm, rộng 0,6 - 0,8 cm. Cằm hình cựa, dài 2,2 - 2,4 cm. Môi hình tim, 3 thùy, dài 2,5 - 2,7 cm, rộng 2 - 2,4 cm, có một đường sống lớn đến giữa môi thì tách thành 3 đường song song; thùy bên hình bán nguyệt, lệch có nhiều gân lớn màu đỏ; thùy giữa có đỉnh khía sâu, mép gấp nếp răn reo. Cột màu trắng, cao khoảng 0,5 cm, răng cột nhọn. Nắp hình mũ, đỉnh hơi nhô thành đường sống ngắn.

Sinh học và sinh thái: Ra hoa vào tháng 5 - 6. Tái sinh bằng chồi và hạt. Mọc bám trên các cây gỗ lớn trong rừng, ở độ cao 300 - 700 m.

Phân bố: Trong nước: Mới thấy ở Gia Lai (K’Bang, Kon Hà Nừng).

Thế giới: Chưa biết.

Giá trị: Loài đặc hữu của Việt Nam. Cây làm cảnh vì có hoa đẹp.

Tình trạng:

Loài có nơi cư trú và khu phân bố rất hẹp, mới gặp ở một điểm trong khu phân bố. Loài này có giá trị làm cảnh cao nên thường bị thu hái nhiều làm giảm số lượng cá thể trưởng thành một cách nghiêm trọng. Nơi cư trú bị đe dọa do chặt phá rừng.

Phân hạng: EN A1d, B1+2b,c.

Biện pháp bảo vệ: Loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá "hiếm" (Bậc R). Đề nghị xây dựng khu bảo tồn và nhân giống Lan trong vườn quốc gia và di chuyển một lượng cây sống có thể của loài này về khu bảo tồn và chăm sóc.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 439.
 

Hoàng thảo hoa cong - Dendrobium intricatum

Hoàng thảo hoa cong - Dendrobium intricatum

Lan sống phụ sinh, thân thẳng, mảnh. Lá hình giáo thuôn, nhọn ở đỉnh, có bẹ ở gốc, dài 5 - 10cm, rộng 1 - 1,5cm, mỏng. Cụm hoa ngắn ở các đốt không lá. Hoa màu hồng có cựa dài ở gốc, cong, cánh môi trái xoan, thuôn hẹp ở họng, tròn ở đỉnh, mép khía răng.

Tên Việt Nam: Lan hoàng thảo hoa cong
Tên Latin: Dendrobium intricatum
Đồng danh: Dendrobium intricatum Gagnep.
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Cây phụ sinh

Mô tả: Lan sống phụ sinh, thân thẳng, mảnh. Lá hình giáo thuôn, nhọn ở đỉnh, có bẹ ở gốc, dài 5 - 10cm, rộng 1 - 1,5cm, mỏng. Cụm hoa ngắn ở các đốt không lá. Hoa màu hồng có cựa dài ở gốc, cong, cánh môi trái xoan, thuôn hẹp ở họng, tròn ở đỉnh, mép khía răng.

Phân bố: Cây mọc chủ yếu ở vùng núi Nam Trung bộ: Daklak, Bảo Lộc, Đà Lạt (Lâm Đồng), và phân bố ở đảo Phú Quốc và phân bố ở Thái Lan.

Tài liệu dẫn: Phong lan Việt Nam - Trần Hợp - trang 92.
 

Hoàng thảo tiểu thạch - Dendrobium parcum

Hoàng thảo tiểu thạch - Dendrobium parcum

Lan sống phụ sinh, thân rễ mảnh, cao 50cm, hơi dẹt. Lá thuôn hẹp, dài 3 - 6cm, rộng 0,6 - 0,8cm, dễ rụng. Cụm hoa ngắn có 4 - 5 hoa nhỏ, màu vàng lục nhạt. Cánh môi dạng bầu dục lõm ở đỉnh, gốc có đốm màu tía

Tên Việt Nam: Lan hoàng thảo tiểu thạch
Tên Latin: Dendrobium parcum
Đồng danh: Dendrobium parcum Rchb. f.
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Cây phụ sinh

Mô tả: Lan sống phụ sinh, thân rễ mảnh, cao 50cm, hơi dẹt. Lá thuôn hẹp, dài 3 - 6cm, rộng 0,6 - 0,8cm, dễ rụng. Cụm hoa ngắn có 4 - 5 hoa nhỏ, màu vàng lục nhạt. Cánh môi dạng bầu dục lõm ở đỉnh, gốc có đốm màu tía.

Phân bố: Cây mọc chủ yếu ở Lâm Đồng, và phân bố ở Thái Lan, Mianma.

Tài liệu dẫn: Phong lan Việt Nam - Trần Hợp - trang 96.
 

Kỹ thuật trồng thạch hộc

Kỹ thuật trồng thạch hộc

Thạch hộc thường trồng trên những loại giá thể phù hợp gồm mùn cưa cây thông, hạt đá vôi trộn mùn cưa; gạch vụn trộn mùn cưa, vỏ trấu trộn vỏ cây; mảnh gỗ vụn; đá trân châu…

1. Thạch hộc là cây phụ sinh cận nhiệt đới. Phần lớn Thạch hộc sinh trưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ bình quân năm 18°C-21°C, nhiệt độ bình quân tháng 1 trên 8$deg;C, lượng mưa năm trên 1.000 mm, độ ẩm tương đối không khí trên 80%. Ở nơi bán râm, bán nắng, Thạch hộc phụ sinh trên khe đá có nhiều đài tiên và trên vỏ cành thông xù xì có chất lượng tốt.

2. Thời vụ trồng Thạch hộc có thể trồng vào các tháng 3-4, khi trời ấm dần, có mưa xuân, độ ẩm cao, có lợi cho việc kích thích chồi nách phát triển và mọc rễ khí sinh để hút nước và thức ăn nuôi chồi.

Cũng có thể trồng vào cuối thu (tháng 9-10), đảm bảo yêu cầu sinh trưởng của rễ, nhưng chất lượng, số lượng, tốc độ ra rễ không bằng trồng vào vụ xuân.

Cây con được thuần hoá tốt, ở nơi có điều kiện che râm tốt (như trồng trong giàn che) có thể trồng quanh năm.

3. Thạch hộc thường trồng trên những loại giá thể phù hợp gồm mùn cưa cây thông, hạt đá vôi trộn mùn cưa; gạch vụn trộn mùn cưa, vỏ trấu trộn vỏ cây; mảnh gỗ vụn; đá trân châu…

4. Có 3 cách trồng sau đây:

+ Trồng trong giàn che lớn, trồng trong giàn hoặc trồng trên đất

- Nếu trồng trong giàn thì trong giàn che làm các giá đỡ bằng sắt hoặc bằng tre trúc rộng 1-2m, đặt cách mặt đất 30-50 cm, trên giá rải giá thể 8-10 cm.

- Nếu trồng trên đất: trên mặt đất rải 1 lớp đá hoặc các vật rắn hút ẩm tốt rộng 1-2 m, trên mặt đất phủ giá thể dày 8-10 cm.

Cách trồng này dễ kiểm soát nhiệt độ, dễ chăm sóc, chống sâu hại, năng suất cao, nhưng thiếu nắng và khí trời thiên nhiên, sau 4-5 năm nên thay 1 lần, giá thành tương đối cao.

+ Trồng lập thể trên tường: đây là cách trồng mô phỏng thiên nhiên. Dùng gạch kê thành tường cao 1-2 m, trong các kẽ hở của gạch nhét đầy bã mùn rồi tưới ẩm lên tường. Sau đó trồng các hom Thạch hộc đã thuần hoá vào các khe tường. Cách làm này tiết kiệm đất, giá thành rẻ, nhưng ở chân tường thiếu ánh sáng, cây phát triển kém.

+ Trồng trên cây tự nhiên: trong rừng cây lá rộng, chọn cây thân to, ẩm, tán xum xuê, vỏ cây xốp, đem hom đã luyện buộc vào chỗ lõm trên thân, trát phân trộn bùn vào gốc, rồi dùng dây thừng bằng cỏ buộc vài vòng để cố định cây con bám vào thân cây rừng.

thachocbv

Xem tiếp

Cây thạch hộc tía -Dendrobium nobile làm thuốc

Cây thạch hộc tía -Dendrobium nobile làm thuốc

Cả cây Thạch hộc chứa chất nhầy, ankaloit dendrobin, nobilin, vị hơi ngọt, hơi đắng, tính bình; vào ba kinh: phế, vị, thận. Công năng : tư âm, thanh nhiệt, dưỡng vị, sinh tân, chỉ khát. Bổ ngũ tạng, hư hao, gầy yếu, miệng khô ráo.

I. Tổng quan

Tên Việt Nam: Thạch hộc rỉ sắt

Tên La tinh: Dendrobium officinale Kimura et Migo.

Họ: Lan

Chi: Thạch hộc

1. Theo từ điển Bách khoa dược học của Việt Nam (1999) đã ghi “Thạch hộc” (Dendrobium nobile Lindt) có tên khác là Kim thạch hộc. Họ Lan (Orchidaceae) là cây phụ sinh trên thân gỗ hay vách đá, cao 30 – 50cm, thường mọc thành bụi. Thân hơi dẹt, có rãnh dọc, phía trên hơi dày hơn, có đốt dài 2,5 – 3cm, có vân dọc. Lá mọc so le thành dãy đều ở hai bên thân, thuôn dài, hầu như không cuống, đầu lá hơi cuộn hình mỏng, có 5 gân dọc, dài 12cm, rộng 2 3cm, cụm hoa ở kẽ lá.

Hoa to màu hồng, mọc thành chùm trên những cuống dài, mang 2 – 4 hoa có cánh môi hình bầu dục nhọn, cuốn thành phễu trong hoa, ở họng hoa có những điểm màu tím. Quả nang hơi hình thoi, khi khô tự mở. Hạt nhiều, mùa hoa: tháng 2 – 4, mùa quả: tháng 4- 6. Cây mọc hoang ở rừng núi, trên cây gỗ và được trồng làm cảnh ở Việt Nam.

Thạch hộc được phân bố ở Việt Nam, Lào, Trung Quốc, Myanma và nhiều nước vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Dùng cả cây, thu hái vào mùa đông, phơi hoặc sấy khô, bỏ rễ, tẩm rượu 1 đêm rồi phơi khô, lại tẩm giấm, phơi khô để làm thuốc.

Cả cây Thạch hộc chứa chất nhầy, ankaloit dendrobin, nobilin, vị hơi ngọt, hơi đắng, tính bình; vào ba kinh: phế, vị, thận. Công năng : tư âm, thanh nhiệt, dưỡng vị, sinh tân, chỉ khát. Chủ trị bệnh ôn nhiệt tân dịch đã thương tổn, hoặc ôn nhiệt đã hết mà dư nhiệt vẫn còn. Bổ ngũ tạng, hư hao, gầy yếu, miệng khô ráo. Ngày dùng 8 – 16g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán, thường phối hợp với vị thuốc khác.

2. Trong sách “ Dược dụng thực vật danh mục” Quảng Tây xuất bản năm 1974 tại Nam Ninh – Trung Quốc đã ghi các loài Thạch hộc sau đây:

- Đại hoàng thảo D.clavalint Ladil. Var. auranmtiacum (Reichbof) Tang et Wang: toàn cây làm cây thuốc, vị ngọt, hơi đắng, tính mát, có công năng tư âm, nhuận phổi, thanh nhiệt, chỉ khát, ích vị .v.v. có thể trị các bệnh nhiệt, khô miệng, âm hư, kết hạch phổi, có khả năng diệt ruồi.

Phân bố ở huyện Vũ Minh

- Tiểu hoàng thảo: D.hercoglassum Reichbf, toàn cây làm thuốc, công năng trị âm, thanh nhiệt, kiềm khát. Phân bố ở huyện Kim Tú.

- Tiểu thạch hộc: D. Kosepangii Tso

Toàn cây làm thuốc, phân bố ở huyện Kim Tú.

- Hồng lam thảo: D.linegue lla Finet

Toàn cây làm thuốc, phân bố ở huyện Tây Lâm.

- Tụ thạch hộc: D.lindleyi Steud

Thân làm thuốc, vị ngọt, tính hàn, Tư âm thanh nhiệt, dưỡng vị, kìm khát, nhuận phổi, cầm ho, kết hạch phổi, viêm phế quản, sốt rét, viêm xoang, hen xuyễn, đau dạ dày. Phân bố ở huyện Thượng Lâm.

- Thạch hộc La hà: D.lohohense Tang et Wang

Toàn cây làm thuốc, phân bổ ở huyện Long Vân

- Thạch hộc: D.nobile Lindl

Toàn cây làm thuốc, vị ngọt, nhạt, tính bình. Tư âm bổ thận, ích vị, thanh nhiệt, điều trị kết hạch phổi, dạ dày, di tinh, mồ hôi trộm… Có khả năng diệt ruồi. Phân bổ ở huyện Thượng Lâm.

3. Thạch hộc rỉ sắt:
Lý giải của Trung Quốc là Hộc và Thạch tương thông. Trước đời nhà Tống, cứ 10 đấu là 1 hộc, sau Nam Tống sửa thành 5 đấu là 1 hộc. Do loại cây này thường sinh trưởng ở khe vách đá, lại rất quý hiếm được ví như “hộc”, từ đó đặt tên là “thạch hộc”. Vì vỏ thân và biểu bì phiến lá có màu rỉ sắt hoặc đốm tím nên đặt tên là “thạch hộc rỉ sắt ”.

Thạch hộc rỉ sắt có tên gọi khác là Hắc tiết thảo, Thiết bì lan, Lí thụ thảo là cây thảo lâu năm thuộc Chi Thạch hộc họ Lan, thường sinh trưởng ở các vách đá, khe đá, hoặc phụ sinh trên cây cổ thụ, ở vùng cao núi đá, nhiệt đới, Á nhiệt đới, độ cao từ 800 – 1000 m.

Trên toàn cầu họ Lan có 500 chi, 1500 loài, trong đó Chi Thạch hộc là Chi lớn nhất.

Ở Trung Quốc họ Lan có 150 Chi, 1000 loài chủ yếu phân bố ở phía Nam vùng Tần Lĩnh và Lưu vực sông Trường Giang. Phần lớn các loài của Chi Thạch hộc phân bổ tập trung ở vùng 15030’ – 25012’ vĩ Bắc, chủ yếu ở các tỉnh Chiết Giang, Quảng Tây, Hồ Nam, Vân Nam, Quý Châu. Chi Thạch hộc ở Trung Quốc có 72 loài, 2 loài phụ. Theo “Dược điển nước cộng hòa Trung Hoa” xuất bản năm 2005 đã ghi nhận ở Trung Quốc có 5 Chi Thạch hộc là: Thạch hộc hoàng thảo, Thạch hộc bờm ngựa, Thạch hộc vỏ tím, Thạch hộc rỉ sắt, Thạch hộc Kim thoa, trong đó Thạch hộc rỉ sắt là quý nhất được đánh giá là tuyệt phẩm của Thạch hộc. Thạch hộc rỉ sắt là loài cây có nguy cơ tuyệt chủng, được ghi vào sách đỏ, là dược liệu quý hiếm được pháp luật bảo hộ nghiêm ngặt. Quý tộc thời Trung Hoa cổ đại coi Thạch hộc rỉ sắt là “nàng tiên”, mà dân gian gọi là “cỏ cứu mệnh”.

Thạch hộc khó sinh sản, mọc chậm, khó trồng, những cây mọc hoang dã đã được đưa vào “Công ước buôn bán quốc tế động thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng” được pháp luật bảo vệ, do đó nguồn cung cấp tự nhiên đã cạn kiệt, cấm thu hái và buôn bán.

Xưa kia Trung Quốc có 9 loại “Đại Tiên thảo Trung Hoa” gồm Thạch hộc rỉ sắt , Thiên sơn tuyết liên, Tam trạng nhân sâm, Đông trùng hạ thảo, Bách niên thủ ô, Hoa giáp phục linh, Đại mạc tùng dung, Thân sơn linh chi và Chân châu đáy biển. Trong đó Thạch hộc có công năng siêu việt về tư âm, bổ thận, được xếp vào đại tiên thảo đầu vị của 9 loại đại tiên thảo trên đây:

Bởi vậy, Thạch hộc rỉ sắt được mệnh danh là “vàng thực vật” là dược liệu quý hiếm truyền thống, được ghi danh trong “Dược điển nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” xuất bản năm 2005, là loài quý nhất trong các loài Thạch hộc. Hiện nay trong dân gian vẫn dùng nhiều mĩ từ để mô ta cây này “Cây thuốc vàng”, “Cây thuốc nghìn vàng”, “Đại hồng mao của ngành dược”

Xem tiếp

Thứ Tư, 1 tháng 11, 2017

Cách Trồng và chăm sóc lan Giả Hạc

Cách Trồng và chăm sóc lan Giả Hạc

Lan giả hạc có tên là Dendrobium anosmum Lindl, là một loài lan rất đẹp và có hương thơm nồng nàn, là phong lan của rừng nhiệt đới, có thân thòng, ra hoa khi giả hành đã rụng hết lá

Giả Hạc thường mọc trên các cành cây ở cao độ khoảng 1000-1300 m tại các rừng cây thuộc Đô Lương, Vinh, Krong Pha, Đà Lạt, Bảo lộc, Đắc Lắc, Sông Bé, Lộc Ninh v.v…

Thân dài tới 1.20 m buông rũ xuống. Lá mọc đối cách dài 8-12 cm, rộng từ 4-7 cm. Hoa to tới 10 cm mọc từ 1-3 chiếc ở các đốt đã rụng lá, nở vào mùa Xuân.Dendrobium anosmumcó hai mầu sắc chính: tím hồng và trắng. Tuy nhiên có khá nhiều biến dạng hồng nhạt, hồng thẫm hoặc cánh trắng lưỡi tím, nhưng rất dễ nhầm lẫn với Dendrobium parishiithân ngắn chỉ chừng 30-40 cm và hoa tím sẫm hơn nhiều. Hương thơm thực là ngào ngạt đến nỗi có người không chịu nổi, nhưng không hiểu tại sao khoa học gia Lindleyi khi đặt tên cho cây này vào năm 1845 lại dùng chữ Anosmum mà tiếng La tinh có nghĩa là không có hương thơm. Dù rằng các sắc hoa có hơi khác nhưng tất cả đều lâu tàn trong 3-4 tuần lễ và rất thơm không ai có thể phủ nhận điều này cả. Một cây nếu mạnh khỏe có thể ra tới 50-70 hoa là chuyện thường.

Ngoài ra hoa Giả Hạc còn có màu trắng tuyền: Dendrobium anosmum var. alba nhưng hiếm thấy.

Đọc tiếp xin Click chuột vào đây!

Lan Vani Trắng

Lan Vani Trắng

Lan sống phụ sinh, leo, dài 10 - 40cm chia đốt và chia nhánh, màu lục bóng, có nhiều rễ. Lá thuôn, dầy, dài 7 - 10cm, rộng 1, 5 - 2cm, đỉnh thuôn nhọn. Cụm hoa chùm. Hoa 5 chiếc lớn, màu trắng, cánh môi hình tam giác, giữa có vạch dài.

Tên Việt Nam: Lan vani trắng
Tên Latin: Vanilla albia
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Cây phụ sinh

Mô tả: Lan sống phụ sinh, leo, dài 10 - 40cm chia đốt và chia nhánh, màu lục bóng, có nhiều rễ. Lá thuôn, dầy, dài 7 - 10cm, rộng 1, 5 - 2cm, đỉnh thuôn nhọn. Cụm hoa chùm. Hoa 5 chiếc lớn, màu trắng, cánh môi hình tam giác, giữa có vạch dài.

Phân bố: Cây mọc ở Nha Trang (Khu BTTN Hòn Bà), và phân bố ở Thái Lan, Malaysia, Indonesia.

Hoàng thảo sợi - Dendrobium capillipes

Hoàng thảo sợi - Dendrobium capillipes

Lan sống phụ sinh, bụi nhỏ, cao 5 - 20cm, đốt có rãnh dọc. Lá 1 - 2 ở đỉnh, dạng thuôn nhọn, dài 4 - 8cm, rộng 1 - 1,5cm. Cụm hoa mảnh có ít hoa (2 - 4 chiếc). Hoa lớn màu vàng, cánh môi bầu dục tròn, có đốm lớn màu vàng đầm, cựa ngắn.

LAN HOÀNG THẢO SỢI
Tên latin: Dendrobium capillipes Rchb.f..
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp nhóm: Epiphytically, Saprophytes

Mô tả: Lan sống phụ sinh, bụi nhỏ, cao 5 - 20cm, đốt có rãnh dọc. Lá 1 - 2 ở đỉnh, dạng thuôn nhọn, dài 4 - 8cm, rộng 1 - 1,5cm. Cụm hoa mảnh có ít hoa (2 - 4 chiếc). Hoa lớn màu vàng, cánh môi bầu dục tròn, có đốm lớn màu vàng đầm, cựa ngắn.

Phân bố: Cây mọc ở vùng núi Tây Nguyên (Ban Mê Thuột, Lâm Đồng), và phân bố ở Ấn Độ, Mianma, Lào, Thái Lan, Trung Quốc.

Tài liệu dẫn: Phong lan Việt Nam - Trần Hợp - trang 83

Dendrobium - Hoàng thảo rừng Việt Nam

Dendrobium - Hoàng thảo rừng Việt Nam

Dendrobium là giống rất phong phú về dạng cây, dạng hoa, gồm hơn 1.600 loài. Lan Dendrobium có hơn 1600 loài nguyên thủy, tập trung nhiều nhất ở vùng Đông Nam Á và châu Úc. Điều kiện sinh thái cũng rất đa dạng, Lan Dendrobium rừng Việt Nam có khoảng 90-100 loài.

Sau đây là một số loài lan rừng Việt Nam thuộc nhóm giống Dendrobium, có hoa đẹp:

1. THANH HẠC

Tên khoa học: Dendrobium cruentum Rchb. f.
Cánh hoa màu xanh ngọc, lưỡi sần sùi những hạt đỏ cam dọc theo phần gốc sóng lưỡi.
Phân bổ ở vùng lạnh như Lâm đồng, Đà lạt.

2. THANH HẠC

Tên khoa học: Dendrobium suzukii.
Là loài lan phát hiện ở Việt Nam, được người Nhật nhập về và đặt tên là Dendrobium suzukii, cánh hoa màu xanh ngọc, lưỡi sần sùi những hạt đỏ, hoa lâu tàn không hương, cây khó trồng. Thanh hạc Dendrobium suzukii – rất giống Den. cruentum nhưng khác ở chỗ, Den. cruentum có cánh hoa màu xanh nhạt hơn, lưỡi màu cam nhạt ít nhăn nheo như Den. suzukii.
Phân bổ ở vùng lạnh như Lâm đồng, Đà lạt.

3. HOÀNG PHI HẠC

Tên khác:
Tên khoa học: Dendrobium signatum Rchb.f.
Giả hành dài, đứng đôi khi hơi cong, phần gốc nhỏ hơn phần trên, có luống rãnh màu vàng óng. Hoa cánh trắng đôi khi hơi hồng (có người gọi trường hợp này là hồng phi hạc), các cánh bên và lá đài xoắn, môi trắng, môi cuội như cái phễu, họng môi màu vàng chanh. Hoa nở vào khoảng tháng 2-3, lâu tàn, có hương thơm.

4. TỬ PHI HẠC

Tên khác: Phi hạc tím, hoàng thảo xoắn.
Tên khoa học: Dendrobium tortile Lindl.
Ra hoa vào tháng 4-6, cánh hoa hơi xoắn nên còn gọi hoàng thảo xoắn.

5. GIẢ HẠC

Tên khác: Lan Phi điệp
Tên khoa học: Dendrobium anosmum Lindl.
Tên đồng danh (Homotypic Synonyms): Dendrobium Superbum Rchb.f

6. NHẤT ĐIỂM HỒNG

Tên khoa học: Dendrobium draconis
Hoa màu trắng bóng, gốc môi có sọc đỏ, nở hoa vào mùa hè (tháng 3-5), có hương thơm.

7. BẠCH TRINH NỮ

Tên khác: Hoàng thảo trinh nguyên, Hoàng thảo trinh bạch.
Tên khoa học: Dendrobium virgineum var alba
Rất giống Nhất điểm hồng, nhưng giả hành hơi xám không vàng như nhất điểm hồng, ít luống rãnh hơn. Hoa cánh trắng, môi trắng, gốc môi có vài sọc nhỏ màu đỏ nhạt, hay vàng nhạt, đôi khi trắng hoàn toàn chỉ cò trụ phấn màu đỏ. Hoa nở vào mùa thu (tháng 6-9)

8. NHẤT ĐIỂM HOÀNG


Tên khoa học: Dendrobium flavum
Giả hành thường ngắn hơn Nhất điểm hồng. Hoa màu vàng sữa, gốc môi màu vàng cam, nở hoa vào mùa hè. Ít phổ biến hơn Nhất điểm hồng.

9. HOÀNG THẢO HỎA HOÀNG

Tên khác: Bạch hòa hoàng, hoàng thảo đốm đỏ.
Tên khoa học: Dendrobium bellatulum Rolfe
Cây nhỏ, hoa ít, vòi hoa khoảng 1 đến 3 hoa, hoa cánh trắng, môi đỏ (đôi khi gốc môi đỏ, bờ môi màu vàng), sóng giữ môi có gợn, hoa nhỏ khoảng 1.5cm, nở hoa vào khoảng tháng 2-3.
Tài liệu nước ngoài: Dendrobium bellatulum Best grown on slabs of cork or bark. Dwarf, large long-lived, frawhite flowers, lip red. Nigrohirsute. Country: India, Burma, Thailand, China, Laos and Vietnam.

10. LỤA VÀNG


Tên khoa học: Dendrobium heterocarpum Wall. ex Lindl
Hoa màu vàng sữa giống Nhất điểm hoàng, nhưng gốc môi màu vàng chanh xòe ra to hơn phần bờ môi (khác Nhất điểm hoàng gốc môi cuộn, nhỏ hơn bờ môi), ở sóng giữa gốc môi có những gợn sọc màu đỏ nâu, nở hoa vào khoảng tháng 2-3.

11. KIM ĐIỆP

Tên khoa học: Dendrobium capillipes Rchb.f.
Tên đồng danh:
Giả hành ngắn, phần gốc và đỉnh thuôn nhỏ hơn phần giữa, có luống rãnh. Hoa màu vàng, môi xòe to, lớn hơn hai cánh bên, màu vàng, có bớt vàng ở họng đậm hơn gần giống như Vẩy Cá nhưng hoa ít hơn, khoảng 5-10 hoa /một phát hoa, hoa không thơm, nở vào mùa xuân, độ bền hoa khoảng 7-15 ngày.

12. PHI ĐIỆP VÀNG

Tên khác: Hoàng thảo long nhãn, Long nhãn hoa vàng.
Tên khoa học: Dendrobium chrysanthum. Ldl
Hoa màu vàng, trong họng của môi hoa có 2 vết màu nâu sẫm, rìa môi không có tua râu. Khó ra hoa ở trong Nam.

13. LONG NHÃN KIM ĐIỆP

Tên khác: Hoàng thảo hợp
Tên khoa học: Dendrobium fimbriatum Hook
Phân bổ nhiều ở vùng có độ cao 700-1.000m. Hoa vàng, trong họng của môi hoa có 01 vết màu nâu sẫm viền gốc môi nên gọi là Long Nhãn: mắt rồng, rìa môi có nhiều tua râu, ra hoa vào khoảng tháng 3-5, khó ra hoa ở trong Nam.
Tư liệu nước ngoài: Dendrobium fimbriatum Var Occulatum is a large, robust, pendulous plant which bears short racemes with up to fifteen flowers on leafless stems. The psuedobulbs are erect at first but become pendulous as the lengthen. Found in mountainous regions at low to moderate altitudes, these plants require a drier winter rest in the cooler months with fertilizing withheld until the first signs of new growth in the spring.