Trồng và chăm sóc hoa lan

Cung cấp kiến thức về kỹ thuật trồng và chăm sóc các loại hoa lan.

Cát lan - Cattleya Labiata

Cattleya Labiata - The Queen Of The Flower, xứng đáng với tên gọi Nữ hoàng của các loài hoa bởi vẻ đẹp, hương thơm, tuổi thọ và kích cỡ hoa.

Lan Hoàng thảo - Dendrobium

Là chi lan lớn thứ hai của họ nhà lan, là loại lan phổ biến nhất trong giới chơi lan.

Địa lan - Cymbidium

Địa lan luôn làm người chơi lan hài lòng bởi vẻ đẹp cao sang của chúng

Lan Vũ nữ - Oncidium

Vũ nữ còn được gọi là Dancing Lady, một loại lan dễ trồng và chăm sóc, cho hoa đều đặn hàng năm

Lan Hồ điệp - Phalaenopsis

Lan Hồ Điệp luôn được nhiều người mua trong dịp Tết Nguyên Đán

Lan Hài - Paphiopedilum

Lan Hài luôn cho người trồng những bông hoa đẹp và lạ

Vân lan - Lan Vanda

Khả năng cần nhiều ánh sáng, chịu nắng nóng có lẽ Vanda là loài tốt nhất, có lẽ vậy nên hoa Vanda luôn có màu sắc đẹp

Lan rừng

Có nhiều điều thú vị, nơi đây nói chung về các loại lan không có trong các nhóm kia

Hiển thị các bài đăng có nhãn Paphiopedilum. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Paphiopedilum. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2019

Trồng lan hài đốm - Paphiopedilum concolor

Trồng lan hài đốm - Paphiopedilum concolor

Lan hài đốm có tên khoa học là Paphiopedilum concolor mang vẻ đẹp tự nhiên hiếm có. Một vẻ đẹp mang nét độc đáo rất riêng nhưng lại cực kỳ cuốn hút thể hiện một vẻ đẹp kiêu sa không thể sánh bởi sự quý hiếm của nó.


Lan hài đốm - Paphiopedilum concolor

Đặc điểm sinh trưởng

Được thị trường nước ngoài ưa chuộng, nhất là Anh. Hoa lan được coi là biểu tượng của sự sang trọng bởi loài hoa này rất hiếm chỉ những người giàu có mới đủ khả năng thưởng thức. Trong khi đó, đối với Nhật Bản lan lại biểu trưng cho sự giàu có và viên mãn.

- Lan hài đốm là loại sinh trưởng chậm, mọc ở vach núi cao nên khó thuần dưỡng, ánh sáng yếu và độ ẩm trung bình 80%. Tuy vậy, hài đốm lại nở rộ vào mùa xuân, thời gian hoa nở kéo dài, lâu tàn với nhiều màu sắc.

- Hệ thống rễ mảnh và nhạy cảm, với hệ thống lông hút bao quanh rễ. Hệ thống lông hút này có nhiệm vụ hút nước, chất dinh dưỡng và trao đổi oxy. Lưu ý, lan hài đốm cần độ ẩm chứ không thể ngập trong nước, dễ bị úng.

- Mặt dưới hài đốm có nhiều lỗ khổng nên khi bón phân phun lá nên phun mặt dưới để đạt hiệu quả cao hơn.

- Và đặc biệt hơn, khi gặp nhiệt độ ngoài trời quá nóng, quá cao, các lỗ khổng này sẽ khép lại tránh mất nước và bay hơi để đảm bảo độ ẩm cho cây sinh trưởng.

Các thao tác trồng lan hài đốm với giá thể viên

Giá thể viên cung cấp độ ẩm, nhiệt độ, nước, tạo sự thoáng khí tốt, dễ di chuyển, và ít bệnh giảm thiểu quá trình phải thay chậy hàng năm.

Rửa sạch giá thể viên để loại bỏ bụi bẩn. Sau đó ngâm qua đêm trong dung dịch kích thích tạo rễ mới và kháng bệnh

Cẩn thận lấy cây ra khỏi chậu. Loại bỏ tất cả hổn hợp giá thể còn dính trên rễ. Lưu ý phải làm nhẹ nhàng vì rễ lan hài đốm rất mỏng, nhỏ và nhạy cảm, đặc biệt rất ít nên dễ đứt. Cố gắng không làm gãy bất kỳ rễ nào của cây vì rễ của lan hài đốm rất mảnh.

Sau đó rửa các rễ thật kỹ lưỡng để loại bỏ hoàn toàn giá thể môi trường cũ còn dính lại để hạn chế sự gây nhiễm cây. Đảm bảo môi trường, giống mới, sạch, an toàn cho phát triển trong môi trường mới

Cho các giá thể viên vào chậu, cẩn thận đặt cây sâu hơn nửa chiều cao của chậu để giữ cây ổn định. Xếp các giá thể viên lại với nhau chặt, để chắc chắn không có khoảng không nào.

- Độ ẩm: Lan hài đốm cần có đủ độ ẩm và nhiệt độ thích hợp cho phát triển và sinh trưởng. Nước của cây thường được dự trữ trong lá nên cần duy trì độ ẩm và tưới nước thường xuyên ở mức 60%. Một tuần nên tưới từ 1 đến 2 lần vào sáng sớm là tốt nhất. Vào mùa khô, không nhất thiết tưới trực tiếp mà nên tưới dưới sàn nhà để nước bốc hơi duy trì độ ẩm hoặc đặt chậu lên trên khay nước có đặt đá sỏi cách mặt nước.

- Ánh sáng: Vì loại lan hài đốm thường mọc sâu dưới tán rừng lá rộng nên bản chất của nó không tiếp xúc với ánh nắng mặt trời trực tiếp. Nên cần che chắn bằng rèm để ánh sáng mặt trời yếu đi không chiếu trực tiếp dễ làm cháy lá.

- Bón phân: Trong giai đoạn phát triển thì cần thúc Nitơ. Khi cây đã phát triển hoàn toàn thì thúc phân 10-20-10 để kích hoa. Không nên tưới phân quá nhiều mà chỉ từ 1 đến 2 lần/tháng

- Lên chậu: Lan hài đốm phù hợp nhất trồng trong chậu đất xét, một chậu nên dâm từ 2-3 cây con. Giá thể nên trộn vỏ thông, dương xỉ, đá thô, cát. Không nên trộn giá thể quá dày không thể thoát khí, có thể trộn than cục.

Thứ Hai, 21 tháng 5, 2018

Chuyện chưa kể về loài lan hài mang tên Bác


Chuyện chưa kể về loài lan hài mang tên Bác

Tỏa hương, khoe sắc giữa trời Âu, loài lan hài mang tên Hồ Chí Minh toát lên vẻ đẹp mộc mạc và thanh cao của núi rừng Việt Nam.

Cây “cha” và cây “mẹ”

Theo ông Đỗ Khắc Tài, một nhà sưu tầm hoa lan, đang sinh sống tại thành phố Bochum, Đức, lan hài Hồ Chí Minh là một loài cây lai giữa hai loài lan hài bản địa đặc biệt quý hiếm của Việt Nam. Hai loài này có tên khoa học lần lượt là Paphiopedilum Delenatii và Paphiopedilum Vietnamense.

Paphiopedilum Delenatii, “cha” của lan hài Hồ Chí Minh có một số phận khá long đong. Loài lan đặc hữu này được nhà thực vật học người Pháp tên là Poilane phát hiện vào năm 1922 ở tỉnh Khánh Hòa. Một số cành của cây lan Delenatii được đưa về trồng ở Pháp, nhưng chúng đã không sống được lâu.

Bị quên lãng bởi chiến tranh, sau năm 1975, một số nhà sưu tầm cố gắng tìm kiếm lan Delenatii ở Khánh Hòa, nhưng không thể thấy bóng dáng loài cây này. Lan Delenatii được xem như đã tuyệt tích.

Bất ngờ, vào năm 1990, các nhà sinh vật lại tìm thấy lan delenatii trong những cây lan xuất cảng làm được liệu ở Trung Quốc. Kể từ đó, giống lan hài này đã được phục hồi.

Paphiopedilum Vietnamense, “mẹ” của lan hài Hồ Chí Minh thì có một số phận ít sóng gió hơn. Cũng là một loài cây đặc hữu, lan Vietnamense được phát hiện vào năm 1998 ở Cao Bằng. Cái tên giàu ý nghĩa Vietnamense (Việt Nam) là do hai nhà trồng lan người Đức là ông Olaf Gruss và ông Holger Perner đặt.

Rất hiếm gặp, trên thị trường châu Âu những cây lan Vietnamense được bán với giá tương đương 5.000 USD một cây.

Năm 1999, ông Popow, một nhà trồng lan người Đức đã nhân giống thành công cây lan Delenatii với cây lan Vietnamense. Năm 2002, cây lai nở hoa và được ông đặt tên theo tên vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam: Paphiopedilum Ho Chi Minh, nghĩa là lan hài Hồ Chí Minh.

Ông Đỗ Khắc Tài nhận xét: “Dễ trồng, dáng cây tốt, mau ra hoa, hoa to có màu từ hồng đến đỏ với hình dáng tuyệt hảo, cây lan hài Hồ Chí Minh là sự kết hợp giữa hai vẻ đẹp của cây mẹ và cây cha, một vẻ đẹp Á Đông thuần túy”.

Tuy nhiên, Hiệp hội hoa lan quốc tế chưa công nhận tên gọi này. Khi Popow đem mẫu lan hài Hồ Chí Minh đi chứng nhận, ông không xuất trình được giấy tờ hợp pháp của cây cha và cây mẹ bởi vì cả hai loài cây này đều nắm nằm trong danh sách cấm xuất cảng của CITES (Công ước quốc tế về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp).

Vì vậy tên gọi chính thức của loài lan hài này cho đến nay vẫn được mặc định là Paph. delenatii x Paph.vietnamense, có nghĩa là loài lai giữa lan delenatii và lan vietnamense.

Dù vậy, các nhà sưu tầm hoa lan và các nhà phân loại học chẳng mấy khi sử dụng tên gọi dài dòng đó. Họ chỉ gọi loài hoa quý phái có nguồn gốc Việt Nam bằng một cái tên mộc mạc: Paphiopedilum Ho Chi Minh - lan hài Hồ Chí Minh.

Cái tên này một lần nữa được khẳng định vào năm 2008, khi nước Cộng hòa Djibouti (một nước thuộc địa cũ của Pháp ở Đông Phi) phát hành một mẫu tem giới thiệu loài lan hài mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (Paphiopedilum Ho Chi Minh).

Phân họ Lan hài (danh pháp khoa học: Cypripedioideae) là một phân họ trong họ Lan (Orchidaceae). Phân họ này bao gồm các chi Cypripedium, Mexipedium, Paphiopedilum, Phragmipedium, Selenipedium.

Các loài lan trong phân họ này có đặc trưng la các khoang túi (các cánh môi hay cánh giữa biến đổi) của hoa có hình chiếc hài (loại giày của phụ nữ thời phong kiến). Các khoang túi này có nhiệm vụ bẫy côn trùng, buộc chúng phải thụ phấn cho hoa.

Lan hài không chỉ có giá trị về mặt thẩm mĩ, khoa học, mà còn có giá trị kinh tế cao nên nhiều loài lan hài đã bị săn tìm và thu hái để cung cấp cho các thị trường quốc tế, khiến số lượng của chúng bị suy giảm nhanh chóng, dẫn bị tuyệt chủng.

Lan Hài Paphiopedilum Sanderianum


Lan Hài Paphiopedilum Sanderianum

Paphiopedilum Sanderianum là một loài lan quý hiếm đặc hữu của Tây Bắc Borneo. Được phát hiện vào năm 1885 và loại này trở nên cực kì nổi tiếng bởi có cánh hoa dài hơn cả mét.

1. Tên việt: Hài râu ông cụ

2. Tên khoa học: Paphiopedilum Sanderianum

3. Mô tả: Paphiopedilum Sanderianum là một loài lan quý hiếm đặc hữu của Tây Bắc Borneo (Gunung Mulu). Được phát hiện vào năm 1885 và loại này trở nên cực kì nổi tiếng bởi có cánh hoa dài hơn cả mét. Sau thời điểm phát hiện này, người ta cho lai loại này với những loại lan khác nhưng không sao cho ra được hoa lan có kích thước cánh dài như loài này.

Thời gian sau đó loài này được cho là đã tuyệt chủng trong tự nhiên mãi cho đến năm 1978 được Ivan Nielson phát hiện lại loài này.

Hiện tại vẫn chưa thấy tên tiếng Việt cho lan này, với đặc điểm cánh hoa dài như vậy và nhìn sơ bộ cũng hơi giống giống với bộ râu của những ông cụ (người) nên tạm thời mình đặt tên lan hài “Paphiopedilum Sanderianum” này là “Hài Ông Cụ” cho để nhớ để nói đến cây lan đặc biệt này

Một số hình ảnh về “Paphiopedilum Sanderianum” hay “Hài Ông Cụ” (ảnh của thành viên Magnus A trên trang OrchidsForum chụp lại cây lan của mình khi nở được vài ngày và chiều dài cánh hoa (râu) đạt 1,3m). Mời các bạn cùng chiêm ngưỡng

Lan Hài sống trên thân cây


Lan Hài sống trên thân cây

Đại đa số các giống lan Hài đều là địa lan vì vậy chúng hay mọc ngoài từ nhiên trên mặt đất mềm xốp, trên xác thực vật chết lâu ngày đã bị phân hủy.

Nhưng cũng có những trường hợp các biệt có thể sống ở trên cao, trên thân một loại cây thực vật khác ở ngoài tự nhiên như trường hợp của cây lan “Hài Kim” (Paphiopedilum villosum in situ)

Nắm được đặc điểm này nên các bạn có trồng thuần dưỡng giống này thì chú ý cách nó mọc ở ngoài tự nhiên và trồng sao cho nó thích nhất để cây phát triển tốt và khỏe mạnh

Lan hài Việt Nam - Paphiopedilum Vietnamense


Lan hài Việt Nam - Paphiopedilum Vietnamense

Lá chất da dày, dài, hình thuôn - bầu dục, mặt trên màu lục bóng với các vết loang lổ màu thẫm hơn, mặt dưới màu lục xim với nhiều chấm màu. Hoa có kích thước lớn, thường màu hồng nhạt và thẫm dẫn về chóp

Tên Việt Nam: Lan hài Việt Nam
Tên Latin: Paphiopedilum vietnamense
Đồng danh:  Paphiopedilum vietnamense Gruss & Perner, 1999. Paphiopedilum hilmari Senghas & Schettler, 1999;
Paphiopedilum mirabile Cavestro & Chiron, 1999.
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất

Đặc điểm nhận dạng: Cỏ lâu năm, cỡ 3 - 5 lá xếp thành 2 dãy. Lá chất da dày, dài, hình thuôn - bầu dục, cỡ đến 8 - 17 x 2,5 - 7 cm, mặt trên màu lục bóng với các vết loang lổ màu thẫm hơn, mặt dưới màu lục xim với nhiều chấm màu. Cụm hoa có cuống dài đến 15 - 25 cm, mang 1 hoa. Lá bắc hình trứng rộng, cỡ 1,8 - 3 x 16 - 2 cm. Hoa có kích thước lớn, rộng đến 10 - 12 cm, thường màu hồng nhạt và thẫm dẫn về chóp; lá đài màu trắng hay hồng ở gốc, về chóp chuyển thành màu hồng - tía; lá đài gần trục hoa hình trứng ngược, cỡ 4,2 - 5,1 x 2,5 - 3 cm; lá đài kia cỡ 3 - 4,6 x 3 - 3,3 cm, có lông trắng ở mặt ngoài và ở mép; cánh hoa màu trắng, hồng hay hồng tía ở gốc, ở phần trên màu tía thẫm, hình bầu dục - thuôn, cỡ 5 - 6 x 3,3 - 4,5 cm, phủ lông màu trắng ở cả 2 mặt; môi màu trắng, hồng hay tía, với vệt màu tía thẫm ở giữa, gần hình cầu, cỡ 3,5 - 4 x 2,5 - 4 cm; nhị lép cỡ 1,7 - 2,5 x 1,5 - 2 cm; bầu dài 2,5 - 2,8 cm, phủ đầy lông trắng.

Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 3 - 4. Tái sinh bằng hạt. Mọc rất rải rác dưới tán rừng nguyên sinh rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá rộng ưu thế Nghiến [Excentrodendron tonkinense (Gagnep.) Chang & Miau] trên núi đá vôi kết tinh, ở độ cao 350 - 550 m, trong các khe nứt hay hốc đá ẩm, ít đất ở các vách dựng đứng gần đỉnh núi.

Phân bố:

Trong nước: Mới gặp ở một điểm tại Thái Nguyên (Đồng Hỷ: Mỏ Ba). Các tác giả trước đây (Gruss & Perner, Senghas & Schettler, Cavestro & Chiron) do chỉ căn cứ vào thông tin của những người buôn Lan ở Hà Nội nên đã chỉ ra các điểm gặp (ví dụ: Cao Bằng, Hà Giang hay Tuyên Quang) chưa chính xác.

Thế giới: Chưa biết.

Giá trị: Loài đặc hữu của Việt Nam. Là loài Hài rất quý mới được phát hiện, có hoa to, màu sắc sặc sỡ, lạ mắt và rất đẹp, rất được ưa chuộng ở các thị trường Lan nước ngoài. Tính đa dạng về màu sắc và hình dáng của cánh hoa bên và môi là điều hấp dẫn nhất đối với những người trồng và lai tạo Hài.

Tình trạng: Loài có khu phân bố vô cùng hẹp, chỉ mới phát hiện được ở một vùng núi rất nhỏ (thuộc loại hẹp nhất trong số các loài Hài gặp ở nước ta) và khó tái sinh, lại bị săn lùng để thu hái ồ ạt và triệt để đến cả cây còn rất nhỏ nhằm xuất khẩu lậu qua biên giới nên bị tuyệt chủng trong tự nhiên chỉ sau 6 năm từ khi được phát hiện, và 3 - 4 năm từ khi bị khai thác ồ ạt. Đây là một trong vài ví dụ điển hình của việc cây bị tuyệt chủng do tình trạng buôn bán lậu, vi phạm nghiêm trọng Công ước CITES.

Phân hạng: EW

Biện pháp bảo vệ: Đã liệt kê vào Phụ lục 1 của công ước CITES và Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 1) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích th­­­ư­ơng mại. Cần nhân rộng việc gieo ươm một để vừa tạo nguồn cây làm cảnh quý đồng thời bảo vệ nguồn gen.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 469.

Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2018

Lan hài Henry - Paphiopedilum henryanum


Lan hài Henry - Paphiopedilum henryanum

Vào mùa xuân năm 2001 Leonid Averyanov và D. Harder đã tìm thấy cây lan này tại khu bảo tồn Phong Quang tỉnh Hà giang. Với chiếc cánh đài màu xanh lá và những đốm màu tím đậm ở mặt trong của hoa là.

Tên Việt Nam: Lan hài bắc
Tên Latin: Paphiopedilum henryanum
Đồng danh: Paphiopedilum henryanum Braem,1987
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất

Đặc điểm nhận dạng: Loài lan đất hay trên đá, thân ngắn. Lá 3 - 5 chiếc, dạng trái xoan thuôn, đỉnh có mũi ngắn, mặt trên màu xanh nhạt, nổi rõ gân, mặt dưới màu xanh nhạt, dài 8 - 12cm, rộng 4 - 5cm. Cụm hoa thẳng cao 18 - 22cm có 1 hoa. Hoa có đường kính 8 - 10cm, màu tím nhạt, có lông trắng. Cánh môi dạng túi hẹp cong, màu tím đậm. Cánh đài lớn có nhiều chấm màu tím không đều, cánh tràng trải rộng, mép răn reo màu lục nâu nhạt

Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 3 - 4. Tái sinh bằng hạt. Mọc rất rải rác dưới tán rừng nguyên sinh rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá rộng ưu thế  và  mọc ở các vách núi đá vôi dựng đứng trên cao độ 600-650m trong các khe nứt hay hốc đá ẩm, ít đất ở các vách dựng đứng gần đỉnh núi.

Phân bố:

Trong nước: Loài mới được phát hiện ở vùng núi Bắc Việt Nam (Hà Giang), sát vùng biên giới Trung Quốc. Đây là loài đặc hữu Việt Nam, mới phát hiện năm 1998.

Thế giới: Chưa biết.

Giá trị: Loài đặc hữu của Việt Nam. Là loài Hài rất quý mới được phát hiện, có hoa to, màu sắc sặc sỡ, lạ mắt và rất đẹp, rất được ưa chuộng ở các thị trường Lan nước ngoài. Tính đa dạng về màu sắc và hình dáng của cánh hoa bên và môi là điều hấp dẫn nhất đối với những người trồng và lai tạo Hài.

Tình trạng: Loài có khu phân bố vô cùng hẹp, chỉ mới phát hiện được ở một vùng núi rất nhỏ (thuộc loại hẹp nhất trong số các loài Hài gặp ở nước ta) và khó tái sinh, lại bị săn lùng để thu hái ồ ạt và triệt để đến cả cây còn rất nhỏ nhằm xuất khẩu lậu qua biên giới nên bị tuyệt chủng trong tự nhiên chỉ sau 6 năm từ khi được phát hiện, và 3 - 4 năm từ khi bị khai thác ồ ạt. Đây là một trong vài ví dụ điển hình của việc cây bị tuyệt chủng do tình trạng buôn bán lậu, vi phạm nghiêm trọng Công ước CITES.

Tài liệu dẫn: Phong lan Việt Nam - Trần Hợp - trang 169.

"Vệ hài Henry hay lan hài núi đá (Paphiopedilum henryanum) là một loài lan thuộc Chi Lan hài, Họ Lan. Loài này sinh sống ở đông Đông nam Vân Nam và Quảng Tây, phía bắc Việt Nam." Theo Wikipedia.org

Lan hài vàng - Paphiopedilum villosum


Lan hài vàng - Paphiopedilum villosum

Cây lâu năm, có 4 - 5 lá mọc chụm. Lá hình dải, cỡ 14 - 42 x 2,5 - 4 cm, màu lục ở mặt trên, lục nhạt ở mặt dưới, với nhiều chấm màu nâu tía ở gốc. Cụm hoa có cuống dài 7 - 24 cm, mang 1 hoa, cánh hoa bóng, màu đỏ nâu với dải giữa màu đỏ thẫm và gốc vàng - nâu.

Tên Việt Nam: Lan hài vàng
Tên Latin: Paphiopedilum villosum
Đồng danh: Paphiopedilum villosum (Lindl.) Stein, 1892. Cypripedium villosum Lindl., 1854; Cordula villosa (Lindl.) Rolfe, 1912.
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất

Đặc điểm nhận dạng: Cây lâu năm, có 4 - 5 lá mọc chụm. Lá hình dải, cỡ 14 - 42 x 2,5 - 4 cm, màu lục ở mặt trên, lục nhạt ở mặt dưới, với nhiều chấm màu nâu tía ở gốc. Cụm hoa có cuống dài 7 - 24 cm, mang 1 hoa. Lá bắc cỡ 3,7 - 6,5 x 3 - 3,8 cm, nhẵn. Hoa rộng 7,5 - 13,5 cm, có lông trắng ngắn ở mặt ngoài lá đài; lá đài gần trục hoa màu trắng, ở gần giữa màu lục và ở chính giữa là màu đỏ thẫm, hình trứng ngược, cỡ 4,5 - 7 x 3 - 4,6 cm; lá đài kia màu lục nhạt, hình trứng ngược, cỡ 3,8 - 7,6 x 1,8 - 2,6 cm; cánh hoa bóng, màu đỏ nâu với dải giữa màu đỏ thẫm và gốc vàng - nâu, thường hình thìa, cỡ 4,7 - 8,6 x 2,5 - 4,6 cm, có lông ria (mép) và lông màu tía ở gốc; môi màu đỏ với mạng gân màu đỏ thẫm, cỡ 4 - 6,8 x 3 - 3,8 cm; nhị lép màu vàng, hình tim ngược, cỡ 1,6 x 1,4 cm, có lông cứng; bầu dài 3 - 6 cm, phủ lông dày đặc.

Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 4 - 6. Mọc dưới tán rừng nguyên sinh rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá rộng hay hỗn giao với cây lá kim trên núi đá granit, ở độ cao 1100 - 2000 m, bám thành bụi nhỏ rất rải rác trên thân và cành cây gỗ, đôi khi cả trên các tảng đá ở sườn núi.

Phân bố:

Trong nước: Gia Lai (núi Chư Pah), Lâm Đồng (Lạc Dương: núi Bì Đúp), Khánh Hoà (Hòn Giao).

Thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Lào.

Giá trị: Loài cây làm cảnh quý vì hoa có màu sặc sỡ, đẹp, hiếm và sống bám.

Tình trạng: Loài vốn có khu phân bố hẹp, nơi cư trú lại bị chia cắt rải rác và có số lượng cá thể ít ỏi lại bị thu hái đến kiệt quệ để bán trồng làm cảnh ở trong nước và xuất khẩu lậu qua biên giới nên đang bị tuyệt chủng. Hiện nay các cá thể còn sót lại rất rải rác ở trên các cành cây cao hay tầng đã bị che khuất cũng có số phận rất mong manh do môi trường sống là rừng bị chặt và đốt và do vẫn tiếp tục bị tận thu.

Phân hạng: EN B1+2b,c,e.

Biện pháp bảo vệ: Đã liệt kê vào Phụ lục 1 của công ước CITES và Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 1) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích th­­­ư­ơng mại. Bảo vệ phần quần thể nhỏ nhoi còn sót lại ở Khu bảo tồn thiên nhiên Bì Đúp. Cần nhân rộng việc gieo ươm để vừa tạo nguồn cây làm cảnh đồng thời bảo vệ nguồn gen.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 470.

Lan hài mới phát hiện từ Lào Paphiopedilum rungsuriyanum


Lan hài mới phát hiện từ Lào Paphiopedilum rungsuriyanum

Paphiopedilum rungsuriyanum là loài thực vật nhỏ, khi nhà làm vườn Niwat Rungroang mua chúng thì chúng được rao bán với tên P.canhii.

Paphiopedilum rungsuriyanum được Olaf Gruss và cộng sự mô tả vào tháng 5-2014 dựa trên các mẫu cây trồng ở Thái Lan. Những cây trồng này được Niwat Rungroang - một nhà làm vườn Thái Lan - mua được tại một chợ của Thái Lan. Những cây này được lấy từ miền Bắc Lào và được công bố trên Orchideen Journal - Đức. Đây là loài lan hài rất đẹp và có kích thước nhỏ tương đương với loài Paphiopedium canhii - loài mới được phát hiện ở Bắc Việt Nam năm 2010 và cũng được tìm thấy tại Bắc Lào.

Paphiopedilum rungsuriyanum là loài thực vật nhỏ, khi nhà làm vườn Niwat Rungroang mua chúng thì chúng được rao bán với tên P.canhii. Khi mua ông vẫn nghĩ chúng là  P.canhii vì hình thái lá của chúng rất giống nhau, rất khó nhận biết chúng có phải cùng một loài hay không. Các mẫu vật này được đem về trồng tại Thái Lan, và điều bất ngờ đã xảy ra khi chúng ra hoa.

Paphiopedilum rungsuriyanum phân bố tại khu vực núi đá vôi, nơi có điều kiện sinh thái khá tương đồng với vùng Tây Bắc Việt Nam. Thân mang 3-5 lá, hình bầu dục, tròn ở đầu, dài 10-15cm, rộng 1.5 - 2cm. Mặt trên lá có màu lục đậm và có những vân xanh màu cẩm thạch nhạt trên nền màu lục xám, khá giống với lá loài P.canhii, nhưng mặt dưới lá có phần đậm hơn.

Cũng giống với loài anh em gần của nó, loài Pa. rungsuriyanum mang 1 hoa, rất hiếm khi hai hoa, trên trục ngắn dài 5-8 cm. Hoa màu tím đậm và được bao phủ bởi lớp lông trắng. Hoa có đường kính chừng 4-5 cm, ấn tượng ở chỗ chúng được bao phủ bởi một lớp lông mờ.

Sự phân biệt rõ ràng nhất của loài này so với loài Pa. canhii chính là ở màu sắc của hoa và sự khác biệt hoàn toàn bởi bộ nhị lép. Cánh hoa của chúng rộng hơn và có màu tím đậm. Mặt dưới lá của chúng có màu xanh lá cây với các đường gân màu tím rộng trong khi lan Hài cảnh có lốm đốm màu đỏ tím.

Thứ Năm, 17 tháng 5, 2018

Lan Hài lông - Paphiopedilum hirsutissimum


Lan Hài lông - Paphiopedilum hirsutissimum

Cây mọc thành bụi nhỏ trên các hốc đá. Thân rất ngắn chìm dưới đất. Lá hình dải hẹp, màu bóng lục, đầu thót tù, dài 30 - 40cm, rộng 2 - 3cm, xếp 2 dãy. Cụm hoa dài 20cm, có 1 hoa, cuống có lông màu tím thẫm. Lá bắc 2, hình trứng rộng, có lông tơ dày.



Tên Việt Nam: Lan hài lông
Tên Latin: Paphiopedilum hirsutissimum
Đồng danh: Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl. ex Hook.) Stein, 1892. Cypripedium hirsutissimum Lindl. ex Hook. 1857. Cypripedium esquirolei Schlechter, 1919; Cordula esquirolei (Schlechter) Hu, 1925.
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất

Đặc điểm nhận dạng:

Cây thảo, sống ở đất hoặc trên đá. Lá 5 - 6 chiếc, hình dải, thuôn dần đến đỉnh hai thùy lệch, kích thước 45 x 1,5 - 2 cm, màu xanh, ít nhiều có chấm màu tía ở mặt dưới. Cụm hoa 1 hoa; cuống hoa dài 17 - 25 cm, có lông dài phủ dầy, che ở gốc bởi bẹ dài tới 11 cm; lá bắc hình bầu dục, dài 1,5 - 2,8 cm, có lông. Hoa lớn, đường kính 11 - 14 cm, lá đài màu vàng nhạt đến màu xanh nhạt, màu nâu bóng lan ra đến mép; cánh hoa màu vàng nhạt, các chấm màu nâu - tía ở nửa dưới, màu hồng tía ở nửa trên; cánh môi màu vàng nhạt đến xanh nhạt, các chấm màu hồng tía; nhị lép màu vàng nhạt, các chấm màu tía ở phần gốc, màu nâu bóng ở phần giữa. Cuống và bầu dài 5 - 7,5 cm, phủ đầy lông dài. Lá đài trên hình trứng thuôn, đỉnh tù hay tròn, kích thước 3,8 - 4,5 x 2,6 - 4 cm, mép lượn sóng, có lông. Lá đài dưới tương tự đài trên, kích thước 3,2 - 3,6 x 1,6 - 2,2 cm. Cánh hoa nằm ngang, uốn cong, hình thìa, tròn ở đỉnh, kích thước 5,5 - 7 x 1,2 - 2,2 cm, lượn sóng mạnh ở gốc, có lông. Môi hình túi, kích thước 3,5 - 4,5 x 2 cm. Nhị lép hình gần vuông, tù, lồi, cỡ 10 x 8 mm.

Sinh học và sinh thái: Tái sinh bằng chồi và hạt. Mọc rải rác trong rừng thưa, vùng núi đá, trên đất hoặc trên đá, ở độ cao 700 - 1800 m.

Phân bố:

Trong nước: Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lâm Đồng (trồng ở Đà Lạt).

Thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan.

Giá trị: Là loài Lan hài quý, có giá trị làm cảnh vì thân, lá đẹp, hoa to cỡ 10 cm; đẹp bởi màu xanh của lá đài, màu tía và tím của cánh hoa và màu tía nâu của môi.

Tình trạng: Loài có khu phân bố và nơi cư trú chia cắt. Thuộc nhóm Lan Hài, là nhóm Lan bị săn lùng vì các mục đích thương mại.

Phân hạng: VU A1c,d+A2d.

Biện pháp bảo vệ: Loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá "bị đe dọa" (T) Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 1) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích th­­­­ương mại. Đề nghị xây dựng khu bảo tồn và nhân giống Lan trong vườn quốc gia và di chuyển một lượng cây sống có thể của loài này về khu vực bảo tồn và chăm sóc.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 463.

Lan hài tía - Paphiopedilum purpuratum


Lan hài tía - Paphiopedilum purpuratum

Mọc dưới tán rừng nguyên sinh rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá kim ở đỉnh và đường đỉnh núi đá vôi, có độ cao 600 - 1000 m, rất rải rác trên đất ở chân các vách đá có nhiều mùn.



Tên Việt Nam: Lan hài tía
Tên Latin: Paphiopedilum purpuratum
Đồng danh: Paphiopedilum purpuratum (Lindl.) Stein, 1892. Cypripedium purpuratum Lindl. 1837. Cypripedium sinicum Hance ex Reichb. f. 1853. Cordula purpurata (Lindl.) Rolfe, 1912. Paphiopedilum aestivum Z.J. Liu & J.Y. Zhang, 2001.
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất

Đặc điểm nhận dạng:

Cây lâu năm, có 4 - 6 lá mọc thành 2 dãy. Lá hình thuôn - bầu dục, cỡ 7 - 14 x 2,3 - 4,2 cm, mặt trên loang lổ các khoang màu lục thẫm và lục nhạt, mặt dưới màu lục nhạt. Cụm hoa có cuống dài 10 - 20 cm, mang 1 (- 2) hoa. Lá bắc hình trứng hẹp, cỡ 1,5 - 1,7 x 0,7 cm, có lông trắng. Hoa rộng 7 - 10 cm, có mạng gân màu đỏ thẫm - tía ở tất cả các mảnh bao hoa; lá đài gần trục hoa màu trắng, ở nửa dưới chuyển sang màu lục, hình trứng rộng, cỡ 2,5 - 3,5 x 2,2 - 4,3 cm; lá đài kia màu lục, hình trứng hẹp, cỡ 2 - 3,5 x 1,2 - 1,6 cm; cánh hoa màu đỏ - tía thẫm, về phía gốc chuyển thành màu lục nhạt, về phía chóp thành màu hồng, có nhiều mụn cóc nhỏ dọc gân, hình bầu dục hay thuôn, cỡ 3,5 - 4,6 x 0,9 - 1,3 cm; môi màu tía - đỏ, cỡ 3,3 - 4,4 x 2 - 2,7 cm; nhị lép cỡ 0,8 x 0,8 - 1,1 cm; bầu dài 2,5 - 4 cm, phủ lông trắng.

Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 9 - 10. Tái sinh bằng hạt. Mọc dưới tán rừng nguyên sinh rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá kim ở đỉnh và đường đỉnh núi đá vôi, có độ cao 600 - 1000 m, rất rải rác trên đất ở chân các vách đá có nhiều mùn.

Phân bố:

Trong nước: Lào Cai, Cao Bằng (Nguyên Bình: Yên Lạc), Tuyên Quang (Na Hang), Lâm Đồng.

Thế giới: Trung Quốc.

Giá trị: Loài cây làm cảnh quý vì hiếm, có hoa với các màu tía và đỏ thẫm đẹp.

Tình trạng: Loài vốn có khu phân bố hẹp, nơi sống bị chia cắt rất rải rác và số lượng cá thể ít, trong vài năm gần đây lại bị thu hái ồ ạt đến kiệt quệ để bán trồng làm cảnh ở trong nước và xuất khẩu lậu qua biên giới nên đang bị tuyệt chủng. Các cá thể còn sót lại rất rải rác cũng có số phận rất mong manh do môi trường sống là rừng vẫn tiếp tục bị chặt và đốt cây để tận thu.

Phân hạng: EN A1c,d+2d, B1+2b,e.

Biện pháp bảo vệ: Đã liệt kê vào Phụ lục 1 của công ước CITES và Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 1) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích th­­­­ương mại. Bảo vệ phần quần thể nhỏ nhoi còn sót lại ở Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang. Cần nhân rộng việc gieo ươm để vừa tạo nguồn cây làm cảnh đồng thời bảo vệ nguồn gen.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 467.

Hài xuân cảnh - Paphiopedilum Canhii


Hài xuân cảnh - Paphiopedilum Canhii

Hài xuân cảnh - Paphiopedilum Canhii là loài lan Hài đặc hữu của Việt Nam, có kích thước cây và hoa nhỏ nhất của Việt Nam, mới phát hiện năm 2010.




Câu chuyện về lan hài Cảnh Paphiopedilum canhii .

Có lẽ rất ít các quốc gia trên thế giới có nhiều loài lan hài được phát hiện và công bố như ở Việt Nam , Việt Nam chính là xứ sở của lan hài với rất nhiều loài. Hiện nay theo thống kê của các nhà nghiên cứu về hoa lan ở Việt nam, đã có hơn 20 loài lan hài được công bố. Hầu hết các loài lan hài sống ở những vùng rừng sâu, núi cao hiểm trở, thảm thực vật còn hầu như nguyên vẹn chưa bị tác động bởi bàn tay con người và chúng chỉ nảy mầm khi cộng sinh với một loài nấm. Đã có rất nhiều những nhà nghiên cứu hoa lan ước mong có cơ hội tìm thấy một loài lan hải mới ở Việt Nam, Nhiều thập kỷ đã trôi qua, kể từ khi loài lan hài Hằng được phát hiện ở Việt Nam năm 1983, ước mong đó tưởng chừng như vô vọng. Nhưng mới đây, tháng 5 năm 2010 các nhà khoa học Việt, Nga đã phát hiện và công bố một loài lan hài mới được mang tên nhà sưu tầm hoa lan Chu Xuân Cảnh – Paphiopedilum canhii


Có thể nói đây là một khám phá rất lớn của các nhà khoa học, đã không chỉ gây ngỡ ngàng cho các nhà nghiên cứu hoa lan trên thế giới mà còn là niềm hân hoan của hàng ngàn nhà trồng hoa lan trên khắp hoàn vũ. Loài lan hài Cảnh Paphiopedilum canhii một lần nữa đã minh chứng Việt Nam là một đất nước không chỉ đa dạng sinh học nhất nhì trong khu vực mà còn có rất nhiều những loài chưa được nghiên cứu, công bố. Tất nhiên, sự phát hiện và công bố cũng đồng nghĩa với những thảm họa lại bắt đầu đối với loài lan tuyệt đẹp này.

Lan hài Cảnh có vùng phân bố rất hẹp ở những ngọn núi cao phía Bắc Việt Nam, Khi loài này được công bố các nhà khoa học đã CỐ TÌNH không ghi rõ địa điểm, tọa độ vùng phân bố của loài mới này mà chỉ ghi rất ngắn gọn là phát hiện ở phía bắc Việt Nam. Các nhà khoa học lo sợ rằng, những địa điểm chính xác là miếng mồi thơm ngon cho những kẻ buôn lan trong nước và quốc tế, sẽ tàn phá để kiếm những nguồn lợi kếch xù. Trên nhiều diễn đàn và một số trang web buôn bán hoa lan, đã chào bán cây lan này với giá 300-500 USD/ cây.

Rất nhiều những nhà sưu t ầm hoa lan ở Việt Nam và trên thế giới đang tìm mọi cách để khai thác, sở hữu loài hoa lan đặc hữu, tuyệt đẹp và quí hiếm này. Thế là một cuộc tìm kiếm bắt đầu diễn ra. Anh Chu Xuân Cảnh là người đầu tiên phát hiện cũng chỉ dám sở hữu 2 cây làm tiêu bản và 1 cây duy nhất để theo dõi quá trình phát triển, phát hoa trong quá trình nuôi trồng và cùng giới thiệu với bạn bè có thú vui trồng hoa lan ngắm nhìn và chia sẻ. Đã nhiều lần anh được đề nghị với những món tiền hấp dẫn từ các nhà sư u tâm hoa lan của Đài Loan, Pháp, Đức để có được một vài cây lan giống; nhưng anh đã t ừ chối vì anh hiều được đó là nghĩa vụ, trách nhiệm của một con người đối với thiên Việt Nam, đối với loài lan hài quí hiếm được mang tên mình, không thể đánh mất là một vinh dự rất vô cùng lớn lao đó. Mới đây, anh cùng chúng tôi có dịp quay lại nơi phát hi ện vùng phân bố của loài hoa làn này. Một sự thật đau lòng là toàn bộ những cây lan phân bố ở đây đang bị tuyệt diệt đến mức thảm hại để bán cho các nhà sưu t ầm lan quốc tế. Hiện nay, nhiều nơi tại Điện Biên lan hài Cảnh đã được cân bán bằng kg.

Thứ Tư, 16 tháng 5, 2018

Lan Hài hê len - Paphiopedilum helenae


Lan Hài hê len - Paphiopedilum helenae

Hài hê len Paphiopedilum helenae là loài lan đặc hữu, được phát hiện năm 1996. Loài lan này phân bố ở một số tỉnh như Cao Bằng, Bắc Kạn.

Tên Việt Nam:   Lan hài hê len
Tên Latin: Paphiopedilum helenae
Đồng danh: Paphiopedilum helenae Aver. 1996. Paphiopedilum delicatum Z.J. Liu & J.Y. Zhang, 2001
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất
Đặc điểm nhận dạng: Cây lâu năm, có 3 - 5 lá mọc chụm. Lá hình thuôn - bầu dục, cỡ 4 - 10 x 0,6 - 1,6 cm, mặt trên màu lục, rải rác có chấm màu tím - tía ở gốc, mặt dưới màu lục nhạt. Cụm hoa có cuống dài 4 - 7 cm, mang 1 hoa. Lá bắc hình trứng - bầu dục, cỡ 0,8 - 1,2 x 0,3 - 0,4 cm. Hoa có kích thước lớn so với toàn cây, rộng 5 - 6 cm, có lông ngắn ở mặt ngoài lá đài; lá đài gần trục hoa màu vàng tươi, hình trứng ngược, cỡ 1,8 - 3,5 x 1,5 - 3 cm; lá đài kia màu trắng, hình trứng - bầu dục, cỡ 1,5 - 2,5 x 0,8 - 1,5 cm; cánh hoa màu vàng cam với mạng gân màu da cam - nâu thẫm hơn, cỡ 2,5 - 3,5 x 0,4 - 0,8 cm, hơi có lông ở mép và gốc trong; môi màu da cam - nâu tươi, hình túi sấu, cỡ 2 - 3 x 1,5 - 2 cm; nhị lép màu vàng nhạt, hình trứng ngược rộng, cỡ 0,7 - 0,8 x 0,7 - 0,8 cm, có lông dài; bầu dài 2 - 3,5 cm, phủ đầy lông ngắn màu tía thẫm.

Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 9 - 11. Tái sinh bằng hạt. Mọc dưới tán rừng nguyên sinh rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá kim hay hỗn giao cây lá kim - lá rộng trên núi đá vôi, ở độ cao 600 - 1000 m, thành nhóm nhỏ rất rải rác trong các khe nứt, ít đất của các vách dựng đứng ở gần đỉnh và đỉnh núi.

Phân bố:

Trong nước: Cao Bằng (Trà Lĩnh: núi quanh hồ Thăng Heng; Đông Khê), Bắc Kạn (Na Rì: Kim Hỷ).

Thế giới: Trung Quốc.

Giá trị: Loài cây làm cảnh quý vì có kích thước loài nhỏ nhất trong số Hài của Việt Nam, có hoa đẹp, màu sắc duyên dáng và hiếm.

Tình trạng: Loài vốn có khu phân bố hẹp, nơi cư trú bị chia cắt và rất rải rác, lại có số lượng cá thể ít, trong vài năm gần đây bị thu hái đến cạn kiệt để xuất khẩu lậu qua biên giới nên đang bị tuyệt chủng. Hiện nay chỉ còn sót lại rất rải rác một số cây ở các khe núi khuất và cao khó thu hái, nhưng số phận của chúng cũng rất mong manh do môi trường sống là rừng bị chặt và đốt do vẫn tiếp tục bị tận thu.

Phân hạng: CR A1a,cd, B1+2b,c,e.

Biện pháp bảo vệ: Đã liệt kê vào Phụ lục 1 của công ước CITES và Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 1) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Bảo vệ phần quần thể nhỏ nhoi còn sót lại ở Trà Lĩnh và Đông Khê. Cần nhân rộng việc gieo ươm để vừa tạo nguồn cây làm cảnh đồng thời bảo vệ nguồn gen.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 462.

Lan Hài việt - Paplliopedilum Vietnamense


Lan Hài việt - Paplliopedilum Vietnamense

Hài việt, Hài bóng, Paplliopedilum Vietnamense, Đây là loài đặc hữu của Việt Nam. Hài việt được phát hiện từ năm 1999 nhưng cho đến nay đã bị đánh giá là tuyệt chủng ngoài tự nhiên.


Tên Việt Nam: Lan hài Việt, hài bóng
Tên Latin: Paphiopedilum Vietnamense
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Nhóm: Cây Lan đất



Hài mốc vàng - Paphiopedilum Armeniacum


Hài mốc vàng - Paphiopedilum Armeniacum

Loài lan đất có giả hành dài, to 2 - 3mm, cây mang 5 - 7 lá. Lá dài 6 - 12cm to 1,8 - 2,3 cm, hơi nhọn. Hoa thường chỉ 1, màu vàng đậm hay nhạt, to 6 - 8cm.

Tên Việt Nam: Lan hài kim
Tên Latin: Paphiopedilum armeniacum
Đồng danh: Paphiopedilum armeniacum Chen & Liu
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất

Mô tả:

Loài lan đất có giả hành dài, to 2 - 3mm, cây mang 5 - 7 lá. Lá dài 6 - 12cm to 1,8 - 2,3 cm, hơi nhọn; mặt trên hơi lục trắng với vân lục đậm nhạt, mặt dưới phủ các đốm đỏ tía, đậm, không đều. Phát hoa đứng, cao 25cm, màu lục với đốm tía, có lông nâu đỏ. Lá hoa dài 1,8cm, màu lục, có đốm đỏ tía. Bầu noãn dài 3 - 3,5 cm, màu lục có đốm nâu, bao phủ đầy lông trắng. Hoa thường chỉ 1, màu vàng đậm hay nhạt, to 6 - 8cm. Lá đài sau hình trứng cho đến bầu dục, dài 2,2 - 2,8cm rộng 14 - 2,2cm, hơi nhọn, mép uốn vào ở phần trên.

Lá đài bên dính nhau, nhỏ hơn lá đài sau với 2 sóng ở lưng và chỉ 1 răng tròn ở đỉnh, mặt trong nhẵn. C ánh hoa hình trứng rộng cho đến gần tròn, dài 2,8 - 5,3cm, rộng 2,5 - 3cm, đỉnh gần tròn, 10 - 20 gân, đáy có lông trắng ở mặt trong, mặt ngoài không có lông. Môi bầu dục hay hình trứng, dài 4 - 5cm rộng 3,2 - 4cm, bên trong có lông trắng và đốm đo đỏ ở phía sau. Nhụy lép hình tam giác dài ra, dài 1 - 2cm rộng 1- 1, 5cm, đỉnh đôi khi cong, màu vàng với các sọc đỏ ở giữa. Mùa hoa từ tháng 2 - 4.

Phân bố: Việt Nam loài này phân bố ở vùng núi đá vôi biên giới Việt Nam - Trung Quốc, Myanmar.

Tài liệu dẫn: Lan Việt Nam  - Nguyễn Thiện Tịch - trang 64.
Theo bài "Theo dấu lan hài Việt Nam" có viết: Hài mốc vàng (P. armeniacum): Tuy sự hiện diện của loài hài này trong tự nhiên ở nước ta chưa được các chuyên gia công nhận nhưng thông tin từ những người trồng lan cho biết loài này có mặt ở miền Bắc Việt Nam.

Thứ Ba, 15 tháng 5, 2018

Hài mốc hồng - Paphiopedilum Micranthum


Hài mốc hồng - Paphiopedilum Micranthum

Hài mốc hồng hay còn được gọi với cái tên yêu kiều Hài ngọc nữ Paphiopedilum micranthum là loài Hài của vùng biên giới phía Bắc cho hoa nhỏ và đẹp. Hoa rất giống với hoa một số loài Đỗ quyên có mật. Loài hoa này thu hút các loại côn trùng tới thụ phấn

Mô tả:

Hài mốc hồng còn được biết đến với cái tên Hài ngọc nữ (Paphiopedilum micranthum), cây có 3-5 lá dài 25 cm, rộng 3 cm, dò hoa dài 9-25 cm, hoa như một chiếc muôi lớn dài 10 cm, rộng 5-6 cm, thường nở vào khoảng tháng 3 đến tháng 5. Hoa rất giống với hoa một số loài Đỗ quyên có mật và thường thu hút côn trùng tới thụ phấn.
Phân bố:
Lan Hài mốc hồng hay hài ngọc nữ chủ yếu ở miền Bắc Việt Nam (tập trung tại các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang) và vùng Quảng Tây, Quý Châu, Vân Nam (Trung Quốc).

Lan hài đỏ - Paphiopedilum delenatii


Lan hài đỏ - Paphiopedilum delenatii

Paphiopedilum delenatii được tìm thấy ở đông bắc Việt Nam ở độ cao 800-1300 mét. Loài lan này có vùng phân bố rất hẹp ở những đỉnh núi đá vôi cao trên 1.000m. Trong tự niên, hoa nở vào tháng 12 nhưng trong điều kiện trồng thì nở hoa chậm hơn, từ tháng 1 đến tháng 3. Khu vực có lan này sinh sống có sương mù vào mùa Đông và mưa lớn vào mùa Hè.






Lan hài đỏ hay vệ hài đỏ, vệ hài Delenat (danh pháp hai phần: Paphiopedilum delenatii), được mô tả năm 1924, được đặt tên theo Delanat, một người Pháp yêu thích hoa lan của thập niên 1900. Đến năm 1922, nhà thám hiểm người Pháp Poilane lại tìm thấy những bông hoa lan đẹp rực rỡ này ở Khánh Hoà và mang về Pháp gửi cho Delenat – một người làm vườn của lâu đài St. Germaine en Laye gần St. Cloud để trồng và chăm sóc. Khi cây lan quý hiếm nở hoa, nhà thực vật học Pháp André Guillaumain đã mô tả và công bố loài lan mới, lấy tên ông Delenat đặt cho nó. Người ta đã tưởng rằng loài lan này đã tuyệt chủng cho đến khi nó được phát hiện lại vào năm 1993. Lan hài đỏ là một loài lan thuộc Chi Lan hài. Đây là một loài thực vật đặc hữu Việt Nam. Năm 2010, các nhà sinh vật học Việt Nam mới tìm thấy cây lan hài hồng Paphiopedilum delenatii tại núi Hòn Bà thuộc tỉnh Khánh Hoà gần ranh giới Lâm Đồng, cách Nha Trang khoảng 60km và ở khu vực có độ cao 800 – 1.000m.

Loài lan này mọc thành bụi nhỏ trên các hốc đá ẩm ướt. Lá dài 8 – 11cm, rộng 3 – 4cm, xếp hai dãy, hình thuôn dài, mặt trên màu lục thẫm, mặt dưới nhạt hơn, có nhiều chấm tía. Cụm hoa dài 20cm, có một – hai hoa, cuống màu lục, có chấm đỏ và lông thưa. Lá bắc hai, hình bầu dục, dài 1,2 – 1,5cm. Hoa màu hồng, đường kính khoảng 8cm. Lá đài trên hình trứng, mép hơi cuộn, dài 3cm, rộng 4cm, mặt trong màu hồng nhạt, có lông ngắn, mặt ngoài có nhiều chấm đỏ. Hoa có mùi thơm. Lá đài dưới giống lá đài trên nhưng lớn hơn một chút, ngắn hơn môi. Cánh hoa gần tròn, dài 3 – 4cm, rộng 2,4 – 3,5cm, mặt trong hồng nhạt, mặt ngoài nhiều chấm hung đỏ, lông thưa ngắn ở cả hai mặt. Cánh môi màu đỏ tươi, hình trứng, dài 2,5 – 3,8cm, miệng hình bầu dục, mép cuốn vào trong, có lông ngắn ở gốc. Nhuỵ lép màu tím đỏ với một vệt rộng vàng tươi ở đỉnh, màu trắng ở gốc, hình thoi, dài 1,5cm, đầu tròn, mép có lông

Phân bố

Paphiopedilum delenatii được tìm thấy ở đông bắc Việt Nam ở độ cao 800-1300 mét. Loài lan này có vùng phân bố rất hẹp ở những đỉnh núi đá vôi cao trên 1.000m. Trong tự niên, hoa nở vào tháng 12 nhưng trong điều kiện trồng thì nở hoa chậm hơn, từ tháng 1 đến tháng 3. Khu vực có lan này sinh sống có sương mù vào mùa Đông và mưa lớn vào mùa Hè.

Biến thể


Paphiopedilum delenatii var. album
Paphiopedilum delenatii var. dunkel dark magenta lip

Lan Hài xanh - Paphiopedilum malipoense

Lan Hài xanh - Paphiopedilum malipoense

Cụm hoa có cuống mảnh và dài đến 30 - 50 cm, có lông, thường mang 1 hoa ở đỉnh. Hoa có mùi thơm dịu, thường màu lục nhạt với mạng gân mảnh hay chấm thưa màu hạt lựu - tía, rộng đến 8 - 12 cm.

Tên Việt Nam: Lan hài malipo, lan hài xanh hay còn gọi là lan hài mã lị
Tên Latin: Paphiopedilum malipoense
Đồng danh: Paphiopedilum malipoense S.C. Chen & Z.H. Tsi, 1984.
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất

Đặc điểm nhận dạng:

Cây lâu năm, có 4 - 6 lá, xếp thành 2 dãy; thân rễ mập, đường kính đến 2 - 3,5 mm, khá dài. Lá hình thuôn hay bầu dục hẹp, cỡ 10 - 16 x 2,5 - 5 cm, dài, ở mặt trên có những khoang màu lục nhạt - lục thẫm xen kẽ nhau, mặt dưới có nhiều chấm màu nâu - tía. Cụm hoa có cuống mảnh và dài đến 30 - 50 cm, có lông, thường mang 1 hoa ở đỉnh. Hoa có mùi thơm dịu, thường màu lục nhạt với mạng gân mảnh hay chấm thưa màu hạt lựu - tía, rộng đến 8 - 12 cm. Lá đài ở gần trục hoa từ hình trứng rộng đến bầu dục, cỡ 4 - 7 x 1,8 - 4,5 cm; lá đài kia từ hình trứng rộng đến trứng - mũi mác, cỡ 3,8 - 5,3 x 2,4 - 4,8 cm; cánh hoa hình trứng, cỡ 4 - 7 x 3,4 - 5 cm, có lông màu trắng; môi là túi gần hình cầu, to, cỡ 4,5 - 6,5 x 3,8 - 5,4 cm, mép cuốn vào trong; nhị lép lồi, hình trứng thuôn - rộng, cỡ 13 - 14 x 11 - 13 mm. Trong loài này phân biệt ra 3 thứ: var. malipoense, var. jackii (H.S. Hua) Aver. và var. hiepii (Aver.) P.J. Cribb khác nhau ở hình dáng của cánh hoa và màu sắc của chóp nhị lép.

Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 3 - 4. Tái sinh bằng thân rễ và hạt. Mọc rất rải rác dưới tán rừng nguyên sinh rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá rộng và hỗn giao cây lá rộng - cây lá kim trên núi đá vôi, ở độ cao 400 - 1450 m, trong các khe nứt hay hốc đất ẩm, ít đất ở các vách trên sườn và gần đỉnh núi.

Phân bố:

Trong nước: Sơn La (Mộc Châu), Hà Giang (Quản Bạ: Cán Tỷ), Cao Bằng (Trà Lĩnh: Quốc Toản), Tuyên Quang (Na Hang), Bắc Kạn (Ba Bể), Lạng Sơn (Hữu Lũng: Hữu Liên), Hòa Bình (Mai Châu: Pà Cò và Hang Kia), Thanh Hóa (Bá Thước) và Quảng Bình (Minh Hóa: Thượng Tiến), Kontum. Trong 3 thứ kể trên thì var. malipoense có sự phân bố rộng nhất và gặp từ 450 đến 1450 m, còn 2 thứ kia chỉ mới gặp ở một hai điểm của huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, và chỉ ở độ cao 450 - 650 m.

Thế giới: Trung Quốc.

Loài này được Chen và Tsi mô tả đầu tiên vào năm 1984 dựa trên mẫu vật khô của thảo tập. Chen và Tsi cho rằng chúng được sưu tập ở Nam Vân Nam. Mẫu vật mà K. M. Feng sưu tập ngày 11 tháng 11 năm 1947 hiện lưu giữ ở Bắc Kinh là lấy ở núi Malipo của Trung Quốc .

Nhưng theo Averyanov thì các cây lan mà người Trung Quốc bán ở Hồng Kông từ những năm 1988 1989 là lấy từ Việt Nam chứ không phải từ Trung Quốc. Averyanov đã khám phá chúng ở cách thành phố Malipo của Trung Quốc 22km về phía đông, gần làng Can Ty thuộc tỉnh Hà Giang, và ở phía Đông nam vùng Mai Châu của tỉnh Hòa Bình.

Giá trị: Loài cây làm cảnh quý vì có hoa to đẹp và nhất là có màu lục rất hiếm.

Tình trạng: Loài vốn có khu phân bố không hẹp, nhưng có nơi cư trú bị chia cắt rải rác và số lượng cá thể vốn rất ít, trong vài năm gần đây lại bị thu hái đến ồ ạt để xuất khẩu lậu qua biên giới cùng với môi trường sống bị phá hủy và nạn lửa rừng nên đang bị tuyệt chủng. Số phận của những cây còn sót lại rất rải rác ở các khe núi khuất và dốc đứng cũng rất mong manh.

Phân hạng: EN A1a,c,d+2d.

Biện pháp bảo vệ: Đã liệt kê vào Phụ lục 1 của công ước CITES và Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 1) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích th­­­ư­ơng mại. Cần bảo vệ trong các Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, Na Hang, Pà Cò - Hang Kia. Nhân rộng việc gieo ươm để vừa tạo nguồn cây làm cảnh đồng thời bảo vệ nguồn gen.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 465.
Các biến thể

Paphiopedilum malipoense var. angustatum (Vân Nam-Trung Quốc). Hemicr.
Paphiopedilum malipoense var. jackii (Đông Nam Vân Nam, Bắc Việt Nam). Hemicr.
Paphiopedilum malipoense var. hiepii
Paphiopedilum malipoense var. malipoense (Đông Nam Vân Nam, Tây Nam Quý Châu, Tây Nam Quảng Tây (Trung Quốc) và Bắc Việt Nam). Hemicr.
Paphiopedilum malipoense var. concolor
Paphiopedilum malipoense var. aureum
Paphiopedilum malipoense var. alba hoa xanh lá cây nhạt
Lan hài xanh - Paphiopedilum malipoense là một loài lan hài thuộc Họ Phong lan. Lan hài nở hoa vào mùa Xuân và có một hoa mỗi cụm. Cây này phân bố ở các tỉnh Quảng Tây, Quý Châu và Vân Nam của Trung Quốc cũng như tại miền Bắc Việt Nam. Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng là nơi có loại lan hài xanh này.
Nguồn Sinh vật rừng Việt Nam

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2018

Lan hài lục - Paphiopedilum gratrixianum


Lan hài lục - Paphiopedilum gratrixianum

Hoa rộng 7 - 8 cm, có lông trắng ở mặt ngoài các lá đài; lá đài gần trục màu trắng - hồng, ở gốc chuyển thành màu lục, có ít nhiều chấm màu nâu tía, hình trứng rộng, cỡ 4,8 - 5,2 x 4,4 - 4,6 cm

Tên Việt Nam: Lan hài lục, hài Tam Đảo
Tên Latin: Paphiopedilum gratrixianum
Đồng danh:  Paphiopedilum gratrixianum Mast. ex Rolfe, 1905. Cypripedium gratrixianum Sander ex Mast. 1905, nom. inval.; Paphiopedilum affine W. Wilde, 1906; Cordula gratrixiana (Mast. ex Rolfe) Rolfe, 1912; Paphiopedilum villosum var. gratrixianum (Mast. ex Rolfe) Braem, 1988.
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất

Đặc điểm nhận dạng: Cây lâu năm, có 4 - 7 lá mọc thành 2 dãy. Lá hình dải, cỡ 30 x 2 - 2,5 cm, màu lục, có chấm màu nâu tím ở mặt dưới gân gốc. Cụm hoa có cuống dài đến 15 cm, mang 1 hoa. Lá bắc cỡ 3 - 4,5 x 1,2 cm. Hoa rộng 7 - 8 cm, có lông trắng ở mặt ngoài các lá đài; lá đài gần trục màu trắng - hồng, ở gốc chuyển thành màu lục, có ít nhiều chấm màu nâu tía, hình trứng rộng, cỡ 4,8 - 5,2 x 4,4 - 4,6 cm; lá đài kia màu lục nhạt, hình trứng - bầu dục, cỡ 3,5 - 5 x 2,5 cm; cánh hoa bóng, màu vàng - nâu, có mạng gân đỏ ửng hay tía - nâu, thường hình thìa, cỡ 4 - 4,2 x 2,4 - 2,8 cm; nhị lép màu vàng, hình tim ngược rộng, mỗi chiều cỡ 1 - 1,2 cm, có lông; dài 4 - 5,5 cm, phủ lông màu nâu - tía thẫm.

Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 10 - 12. Tái sinh bằng hạt. Mọc dưới tán rừng nguyên sinh rậm, thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá rộng trên đá riôlít, ở độ cao 900 - 1100 m, thành nhóm nhỏ rất rải rác trong các khe nứt, ít đất của các vách dựng đứng ở gần đỉnh.

Phân bố:

Trong nước: Lào Cai, Vĩnh Phúc (Tam Đảo) và Thái Nguyên (sườn đông núi Tam Đảo).

Thế giới: Trung Quốc, Lào.

Giá trị: Loài cây làm cảnh quí vì rất hiếm, có hoa khá sắc sỡ với nhiều chấm to đẹp.

Tình trạng: Loài có khu phân bố hẹp và số lượng cá thể ít, lại bị thu hái đến kiệt quệ để bán cho khách du lịch trồng làm cảnh nên đang bị tuyệt chủng. Hiện nay các cá thể còn sót lại ở các khe núi khuất kín và cao vẫn có số phận mong manh do môi trường sống là rừng bị chặt và đốt do vẫn tiếp tục bị tận thu.

Phân hạng: CR A1a,c,d+2d.

Biện pháp bảo vệ: Đã liệt kê vào Phụ lục 1 của công ước CITES và Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 1) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thư­­­­ơng mại. Bảo vệ phần quần thể nhỏ nhoi còn sót lại ở Vườn quốc gia Tam Đảo. Thu hạt gieo ươm để vừa tạo nguồn cây làm cảnh đồng thời bảo vệ nguồn gen.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 461.

Lan hài hương duyên - Paphiopedilum emersonii


Lan hài hương duyên - Paphiopedilum emersonii

Nếu như lần đầu tiên có dịp chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Paphiopedilum emersoniibạn rất dễ lầm tưởng với lan hài hằng Paphiopedilum hangianum vì hoa của chúng khá giống nhau sự khác biệt giữa cánh môi màu vàng và phần còn lại của hoa là một màu trắng tinh

Tên Việt Nam: Lan Hài hương duyên
Tên Latin: Paphiopedilum emersonii
Đồng danh:  Paphiopedilum emersonii Koop. & P.J. Cribb, 1986. Paphiopedilum huonglanae N.T. Tich, 1998, nom inval.; Paphiopedilum emersonii var. huonglanae (N.T. Tich) N.T. Tich, 1998
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất

Đặc điểm nhận dạng: Cỏ lâu năm, có 4 - 7 lá xếp thành 2 dãy. Lá rất giống P. hangianum, chất da, có hình thuôn - bầu dục, cỡ 15 - 25 x 3 - 5 cm,mặt trên màu lục bóng, mặt dưới màu lục nhạt. Cụm hoa có cuống dài 10 - 15 cm, mang 1 hoa. Lá bắc hình bầu dục rộng, cỡ 2,8 - 3 x 1,2 - 2 cm, màu trắng. Hoa thơm dịu, rộng 8 - 9,5 cm; lá đài và cánh hoa dày, màu trắng, có lông ngắn ở cả 2 mặt; lá đài ở gần trục hoa hình bầu dục - trứng, cỡ 3 - 4,5 x 2 - 3 cm; lá đài kia hình bầu dục rộng - gần tròn, cỡ 2,5 - 3,5 x 2,4 - 3,5 cm; cánh hoa hình bầu dục rộng - gần tròn, cỡ 4 - 4,5 x 2,5 - 3,5 cm, ở gốc có lông dài và chấm tía, mép bên đôi khi uốn vào trong; môi màu vàng hay da cam nhạt, gân hình cầu với các chấm to và trắng đục như hạt ngọc, cỡ 3,5 - 4,5 x 2 - 3 cm, mép cuốn vào trong với mạng gân lõm; nhị lép màu vàng với 2 vệt màu đỏ cam, cỡ 1,6 - 2 x 0,8 - 1,1 cm; bầu dài khoảng 3 cm, có lông nhung trắng.

Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 4 - 6. Tái sinh bằng hạt. Mọc rải rác dưới tán rừng nguyên sinh rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá rộng trên núi đá vôi, ở độ cao 400 - 600 m, trong các khe nứt ít đất của các vách dốc đứng ở sườn gần đỉnh núi.

Phân bố:

Trong nước: Thái Nguyên (Võ Nhai: Thượng Nung), Vĩnh Phúc.

Thế giới: Trung Quốc.

Giá trị: Loài cây làm cảnh rất quý vì hoa có màu sắc đẹp dịu dàng với cấu tạo môi có hạt độc đáo, lại rất hiếm.

Tình trạng: Loài có khu phân bố hẹp, chỉ mới gặp với số lượng cá thể rất ít, trên các vách núi dựng đứng và cao.

Phân hạng: CR A1a,c,d.

Biện pháp bảo vệ: Đã liệt kê vào Phụ lục 1 của công ước CITES và Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 1) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thư­­­­ơng mại. Bảo vệ phần quần thể nhỏ nhoi còn sót lại. Cần thu hạt gieo ươm để vừa tạo nguồn cây làm cảnh đồng thời bảo vệ nguồn gen.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 460.

Lan hài hồng - Paphiopedilum delenatii


Lan hài hồng - Paphiopedilum delenatii

Lan hài hồng được đặt tên cho một binh sĩ người Pháp tìm thấy cây lan này vào năm 1913. Với cánh hoa gần tròn, mặt trong màu hồng nhạt, mặt ngoài có nhiều chấm màu hung đỏ, có lông thưa ngắn ở cả hai mặt.

Tên Việt Nam:  Lan hài hồng
Tên Latin: Paphiopedilum delenatii
Đồng danh:  Paphiopedilum delenatii Guillaum. 1925. Cypripedium delenatii (Guillaum.) C.H. Curtis, 1931.
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất
Mô tả:

Cây mọc thành bụi nhỏ trên các hốc đá ẩm. Lá dài 8 - 11cm, rộng 3 - 4cm, xếp 2 dãy, hình thuôn dài, mặt trên màu lục thẫm, mặt dưới nhạt hơn, có nhiều chấm màu tía. Cụm hoa dài 20cm, có 1 - 2 hoa, cuống màu lục, có chấm đỏ và lông thưa. Lá bắc 2, hình bầu dục, dài 1,2 - 1,5cm. Hoa màu hồng, đường kính khoảng 8cm.

Lá đài trên hình trứng, đều nhọn, mép hơi cuộn, dài 3cm, rộng 4cm, mặt trong màu hồng nhạt, có lông ngắn, mặt ngoài có nhiều chấm đỏ. Lá đài dưới gống lá đài trên về hình dạng nhưng lớn hơn một chút, ngắn hơn môi. Cánh hoa gần tròn, dài 3 - 4cm, rộng 2,4 - 3,5cm mặt trong màu hồng nhạt, mặt ngoài có nhiều chấm màu hung đỏ, có lông thưa ngắn ở cả hai mặt.

Cánh môi màu đỏ tươi, hình trứng cầu, dài 2,5 - 3,8cm, miệng hình bầu dục, mép cuốn vào trong, có lông ngắn ở gốc. Nhị lép màu tím đỏ với một vệt rộng màu vàng tươi ở đỉnh, màu trắng ở gốc, hình thoi, dài 1,5cm, đầu tròn, mép có lông.

Sinh học: Mùa hoa vào tháng 2 - 3. Tái sinh bằng hạt và chồi.
Nơi sống và sinh thái: Mọc rất rải rác dưới tán rừng mưa nhiệt đới thường xanh mưa mùa ẩm, ở vùng núi đá, chịu hạn khá tốt.

Phân bố:

Loài đặc hữu của Việt Nam, mới chỉ gặp ở điểm lấy mẫu chuẩn thuộc tỉnh Khánh Hoà (Nha Trang) và một điểm thuộc phía bắc nhưng không rõ địa danh.

Giá trị:

Nguồn gen qúy, hiếm và độc đáo để lai tạo với một số loài lan hài khác tạo ra các dạng lan hài đẹp có ý nghĩa về khoa học và kinh tế. Đã được các chuyên gia về thực vật và các nhà bảo vệ môi trường quan tâm, được CITES (công ước quốc tế về buôn bán động thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng) ghi nhận.

Tình trạng:

Mức độ bị đe dọa: Bậc T.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Bảo vệ loài trong tự nhiên, không chặt phá. Cần gấp rút đưa về trồng để giữ nguồn gen qúy hiếm. Điều tra thêm về nơi phân bố và tình trạng.