Trồng và chăm sóc hoa lan

Cung cấp kiến thức về kỹ thuật trồng và chăm sóc các loại hoa lan.

Cát lan - Cattleya Labiata

Cattleya Labiata - The Queen Of The Flower, xứng đáng với tên gọi Nữ hoàng của các loài hoa bởi vẻ đẹp, hương thơm, tuổi thọ và kích cỡ hoa.

Lan Hoàng thảo - Dendrobium

Là chi lan lớn thứ hai của họ nhà lan, là loại lan phổ biến nhất trong giới chơi lan.

Địa lan - Cymbidium

Địa lan luôn làm người chơi lan hài lòng bởi vẻ đẹp cao sang của chúng

Lan Vũ nữ - Oncidium

Vũ nữ còn được gọi là Dancing Lady, một loại lan dễ trồng và chăm sóc, cho hoa đều đặn hàng năm

Lan Hồ điệp - Phalaenopsis

Lan Hồ Điệp luôn được nhiều người mua trong dịp Tết Nguyên Đán

Lan Hài - Paphiopedilum

Lan Hài luôn cho người trồng những bông hoa đẹp và lạ

Vân lan - Lan Vanda

Khả năng cần nhiều ánh sáng, chịu nắng nóng có lẽ Vanda là loài tốt nhất, có lẽ vậy nên hoa Vanda luôn có màu sắc đẹp

Lan rừng

Có nhiều điều thú vị, nơi đây nói chung về các loại lan không có trong các nhóm kia

Hiển thị các bài đăng có nhãn lan kim tuyến. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lan kim tuyến. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 18 tháng 10, 2018

Lan kim tuyến ba răng - Anoectochilus tridentatus


Lan kim tuyến ba răng - Anoectochilus tridentatus

Cây thảo, mọc ở đất, có thân bò rồi đứng, cao 10 - 15 cm. Có 3 - 5 lá màu xanh ở mặt trên, mặt dưới rất nhạt, kích thước 3 - 4,5 x 2 - 2,5 cm. Cuống cụm hoa 5 - 6 cm, trục hoa dài 4 cm mang 10 hoa

Tên Việt Nam: Lan kim tuyến ba răng
Tên Latin: Anoectochilus tridentatus
Đồng danh: Anoectochilus tridentatus Seidenf. ex Aver. 1990.
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Cây phụ sinh

Đặc điểm nhận dạng: Cây thảo, mọc ở đất, có thân bò rồi đứng, cao 10 - 15 cm. Có 3 - 5 lá màu xanh ở mặt trên, mặt dưới rất nhạt, kích thước 3 - 4,5 x 2 - 2,5 cm. Cuống cụm hoa 5 - 6 cm, trục hoa dài 4 cm mang 10 hoa, Lá bắc dài 3 - 5 mm, bầu dài 6 - 8 mm kể cả cuống. Lá đài giữa dài 4 - 4.5 mm dính với cánh hoa tạo thành mũ. Lá đài bên dài 6 mm, có lông ở mặt sau. Môi màu trắng, chia thùy hình tam giác đỉnh tù, dài 6 - 6,4 x 3 - 3,3 mm. Lá đài và cánh hoa màu đỏ nhạt. Cựa hình côn, dài 3 - 3,3 mm, phía trên có phần phụ hình bản với 3 răng tròn, có 2 u lồi ở miệng cựa. Cột có 2 cánh đứng nhỏ ở phía trước, 2 răng cột ngắn.

Sinh học và sinh thái: Ra hoa vào tháng 6 - 7. Tái sinh bằng chồi và hạt. Mọc trong rừng thường xanh trên núi, ở độ cao 800 - 1200 m.

Phân bố:

Trong nước: Mới thấy ở Vĩnh Phúc (Tam Đảo).
Thế giới: Chưa biết.

Giá trị: Nguồn gen quý của Việt Nam, có giá trị làm cảnh vì cây có lá đẹp, mặt trên màu xanh. Hoa có lá đài và cánh hoa màu đỏ nhạt, môi trắng với thùy giữa chẻ đôi. Ngoài ra còn làm thuốc.

Tình trạng: Loài có khu phân bố và nơi cư trú rất hẹp. Đây là đối tượng săn tìm thu hái (nhổ toàn cây) của tư thương để làm thuốc. Loài này tuy nằm trong khu vực Vườn quốc gia Tam Đảo nhưng vẫn bị tìm kiếm khai thác để làm thuốc đến mức gần như tuyệt chủng ở ngoài thiên nhiên.

Phân hạng: EN A1d+2e.

Biện pháp bảo vệ: Loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá “hiếm” (Bậc R) và Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 1) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thư­­­­ơng mại. Đề nghị xây dựng khu bảo tồn Lan trong Vườn quốc gia Tam Đảo và di chuyển một lượng cây sống có thể của loài này về khu vực bảo tồn và chăm sóc.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 410.
Thông tin liên hệ:

Website: http://Vuonhoalan.net


Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2018

Lan kim tuyến - kim cương

Lan kim tuyến - kim cương

Lan kim tuyến, Lan kim tuyến lông cứng, Kim tuyến, Kim tuyến tơ, Giải thủy tơ, Lan gấm, Cỏ nhung, Kim cương (Anoectochilus setaceus) là một loài thực vật điển hình của chi cùng tên (Anoectochilus).


Lan kim tuyến là một loài lan đất có mặt ở Vân Nam, Lào và Việt Nam. Chúng sinh sống trên các triền núi đá vôi, dọc theo khe suối, dưới các tán cây to trong rừng ẩm ở độ cao 500-1.600 mét.

Cây ưa độ ẩm cao và ưa bóng râm, kỵ ánh sáng, yêu cầu đất nhiều mùn, tơi xốp, thoáng khí. Cây cao 10–20 cm, thân màu tím, mọng nước, phần cây non có nhiều lông mềm, mang 2-6 lá mọc cách, xòe trên mặt đất. Lá hình trái xoan hoặc hình trứng, gần tròn ở gốc và nhọn ở đầu, dài 3–4 cm và rộng 2–3 cm, trên mỗi chiếc lá có 3-5 sọc gân dọc. Mặt trên màu nâu sậm có vệt vàng ở giữa và mạng gân màu hồng nhạt, mặt dưới màu nâu nhạt. Cuống lá dài 2–3 cm, gốc cuống tạo thành bẹ lá ôm lấy thân. Hoa mọc thành từng cụm, với cụm hoa dài 10–15 cm, mang 5-10 hoa màu hồng phủ lông đỏ, dài 2,5 cm với cánh môi dài 1,5 cm mang 6-8 ria mỗi bên, đầu môi chẻ thành 2 thùy thuôn đầu tròn. Bầu dài 13 mm, có lông thưa. Cây ra hoa vào tháng 10-12 và mùa quả chín vào tháng 12 tới tháng 3 năm sau. Có thể sinh sản vô tính chủ yếu bằng chồi và thân rễ.

Trong y học, Lan kim tuyến được sử dụng làm thuốc trị lao phổi, ho do phế nhiệt, phong thấp, đau nhức khớp xương, chấn thương, viêm dạ dày mãn tính, viêm khí quản, viêm gan mãn tính, suy nhược thần kinh; giúp tăng cường sức khoẻ, làm khí huyết lưu thông, có tính kháng khuẩn. Thành phần hóa học của lan kim tuyến bao gồm các chất như quercetin, isoharmnetin-3-O-beta-D-glucopyranosid, kaempferol-3-O-beta-D-glucopyranosid, 5-hydroxy-3'-4'-7'-trimethoxyflavonol-3-O-beta-D-rutinosid và isorhamnetin-3-O-beta-D-rutinosid.

Với đặc tính quý giá về dược liệu, lan kim tuyến được thị trường thu mua với giá khá cao, hơn 120.000 đồng VN/kg. Do số lượng ít, mọc rải rác và còn bị khai thác quá nhiều (với hình thức khai thác chặt cả cây) nên cây đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam năm 2007 theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP, xếp hạng EN A1a,c,d và bị cấm khai thác sử dụng mục đích thương mại.
 

Lan kim tuyến - Anoectochilus setaceu

Lan kim tuyến - Anoectochilus setaceu

Lan Kim Tuyến thân cây mọng nước, với kiểu lá đặc trưng hình trứng cùng màu lục sẫm với mạng gân màu lục nhạt hay màu nâu - đỏ với mạng gân màu vàng - lục hay hồng

Tên Việt Nam: Lan kim tuyến 
Tên Latin: Anoectochilus setaceu
Đồng danh:  Anoectochilus setaceus Blume, 1825. Chrysobaphus roxburghii Wall. 1826; Anoectochilus roxburghii (Wall.) Wall. ex Lindl. 1840.
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales 
Lớp (nhóm): Lan đất

Đặc điểm nhận dạng: Cây thảo, mọc ở đất, có thân rễ mọc dài; thân trên đất mọng nước và có nhiều lông mềm, mang 2 - 4 lá mọc xòe sát đất. Lá hình trứng, gần tròn ở gốc, chóp hơi nhọn và có mũi ngắn, cỡ 3 - 4 x 2 - 3 cm, có màu khác nhau với mạng gân thường nhạt hơn (màu lục sẫm với mạng gân màu lục nhạt hay màu nâu - đỏ với mạng gân màu vàng - lục hay hồng); cuống lá dài 2 - 3 cm. Cụm hoa dài 10 - 15 cm, mang 4 - 10 hoa mọc thưa. Lá bắc hình trứng, chóp thót nhọn đột ngột, dài 8 - 10 mm, màu hồng. Hoa thường màu trắng, dài 2,5 - 3 cm; các mảnh bao hoa dài khoảng 6 mm; môi dài đến 1,5 cm, ở mỗi bên gốc mang 6 - 8 dải hẹp, chóp phiến rộng, chẻ hai sâu, hốc chứa mật dài 7 mm, bầu dài 1,3 cm, màu lục, có nhiều lông mềm.

Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 2 - 4. Tái sinh bằng chồi từ thân rễ và hạt, ít và sinh trưởng rất chậm. Mọc dưới tán rừng nguyên sinh, hầu hết là nguyên thủy, rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá rộng trên sườn núi đá granit, riôlit, phiến sét, ở độ cao 500 - 1600 m, rải rác thành từng nhóm vài ba cây trên đất ẩm, rất giàu mùn và lá cây rụng.

Phân bố:

Trong nước: Lào Cai (Sapa: Phăng Xi Păng, Văn Bàn: Liêm Phú), Hà Tĩnh (Hương Sơn: Rào àn), Quảng Trị, Kontum (Đắk Glei: núi Ngọc Linh, Sa Thầy: núi Chư Mom Ray), Đắk Lắk (Krông Bông: núi Chư Yang Sinh), Lâm Đồng (Lạc Dương: núi Bì Đúp).

Thế giới: Ấn Độ, Nêpan, Butan, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaixia, Inđônêxia.

Giá trị: Cây có giá trị về mặt bảo tồn loài

Tình trạng: Loài có khu phân bố rộng nhưng với số lượng cá thể không nhiều, tái sinh chậm và đòi hỏi điều kiện sống ngặt nghèo ngày càng hiếm. Đã bị khai thác liên tục trong nhiều năm, hiện đã trở nên giảm sút rõ rệt, có nguy cơ bị tuyệt chủng.

Phân hạng: EN A1a,c,d.

Biện pháp bảo vệ: Loài có trong Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 1) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích th­­­­ương mại. Cần bảo tồn các phần quần thể nhỏ còn sót lại ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên. Bên cạnh đó cần nghiên cứu nhân giống để gieo trồng tạo hàng hóa xuất khẩu đồng thời bảo vệ nguồn gen.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 409.