Trồng và chăm sóc hoa lan

Cung cấp kiến thức về kỹ thuật trồng và chăm sóc các loại hoa lan.

Cát lan - Cattleya Labiata

Cattleya Labiata - The Queen Of The Flower, xứng đáng với tên gọi Nữ hoàng của các loài hoa bởi vẻ đẹp, hương thơm, tuổi thọ và kích cỡ hoa.

Lan Hoàng thảo - Dendrobium

Là chi lan lớn thứ hai của họ nhà lan, là loại lan phổ biến nhất trong giới chơi lan.

Địa lan - Cymbidium

Địa lan luôn làm người chơi lan hài lòng bởi vẻ đẹp cao sang của chúng

Lan Vũ nữ - Oncidium

Vũ nữ còn được gọi là Dancing Lady, một loại lan dễ trồng và chăm sóc, cho hoa đều đặn hàng năm

Lan Hồ điệp - Phalaenopsis

Lan Hồ Điệp luôn được nhiều người mua trong dịp Tết Nguyên Đán

Lan Hài - Paphiopedilum

Lan Hài luôn cho người trồng những bông hoa đẹp và lạ

Vân lan - Lan Vanda

Khả năng cần nhiều ánh sáng, chịu nắng nóng có lẽ Vanda là loài tốt nhất, có lẽ vậy nên hoa Vanda luôn có màu sắc đẹp

Lan rừng

Có nhiều điều thú vị, nơi đây nói chung về các loại lan không có trong các nhóm kia

Thứ Năm, 4 tháng 1, 2018

Giới thiệu về Địa Lan Kiếm

Giới thiệu về Địa Lan Kiếm

Về hình thái bên ngoài, địa lan kiếm Cymbidium là những loài thân thảo, đa niên, đẻ nhánh hàng năm tạo thành những bụi nhỏ.

Có loài rễ mọc bám trên vỏ cây, mặt đất (bì sinh hay phụ sinh); có loài rễ ăn sâu trong bọng cây, trong đất mùn (địa sinh hay thực sinh). Rễ mới thường chỉ mọc ở cây con, cây mẹ khó ra rễ mới mà chỉ thấy phân nhánh từ củ rễ.

Thân ngầm của chúng (căn hành) thường ngắn, nối những củ lan với nhau. Các củ lan thực chất là những cành ngắn của căn hành. Củ già, khi bị tách khỏi căn hành cũ, có thể mọc ra đoạn căn hành mới, từ đó mọc lên những cây con. Do đó người ta xếp Cymbidium vào nhóm lan đa thân (sympodial).

Củ lan (giả hành) thường có dạng con quay hay dạng hột xoài, đường kính từ 1 cm đến 15 cm, củ thường tươi và được bọc trong các bẹ lá.

Lá thường có hai dạng: dạng vảy đính theo một đoạn căn hành và dạng thực đính trên giả hành. Lá thực thường có cuống lá, giữa bẹ lá và cuống lá có một tầng phân cách. Khi phiến lá rụng, vẫn còn đoạn bẹ ôm lấy giả hành. Vài loài không có cuống lá.

Tùy theo từng loài mà phiến lá rất khác nhau, có gân dọc nổi rõ hay chìm trong thịt lá. Một số loài ít chịu rợp có phiến lá màu xanh vàng, còn lại thường là xanh đậm. Bản lá và độ dày của lá thay đổi tùy theo từng loài: các loài sống ở trảng trống có lá hẹp và dày hơn các loài ưa bóng rợp. Lá có dạng dải, dạng mũi mác, dạng phiến. Đầu lá nhọn hay chia thành 2 thùy. Kích thước của bản lá biến động từ 0,5 cm đến 6 cm. Chiều dài lá thay đổi từ 10 cm đến 150 cm.

Chồi hoa thường xuất hiện bên dưới giả hành, trong các nách lá, tách các bẹ già, đâm ra bên ngoài. Thông thường, mỗi giả hành chỉ cho hoa một lần. Chồi hoa thường xuất hiện đồng thời với chồi thân, những chồi hoa no tròn hơn, còn chồi thân hơi dẹp. Các lá đầu tiên ở chồi thân mọc đâm ra 2 phía hình đuôi cá, còn ở chồi hoa các lá bao hoa luôn ôm chặt quanh phát hoa.

Chồi hoa và chồi thân phát triển đồng thời

a/ Chồi hoa

b/ Chồi thân

Cọng phát hoa không phân nhánh, dựng đứng hay buông thõng. Chiều dài của phát hoa từ 10 đến hơn 100 cm. Cành hoa mang từ vài đến vài chục búp hoa xếp luôn phiên theo đường xoắn ốc. Búp hoa khi đã đủ lớn, bắt đầu dang xa khỏi cọng hoa, xoay nửa vòng tròn để đưa cánh môi xuống dưới rồi bắt đầu nở. Thoạt nhìn, hoa Cymbidium có 5 cánhgần giống nhau, thực ra chỉ có 2 cánh hoa ở bên trong, còn lại là 3 lá đài ở bên ngoài, có cấu trúc và màu sắc giống cánh hoa. Cánh hoa thứ 3 chuyên hóa thành cánh môi, màu sắc rực rỡ hơn, xẻ thành 3 thùy tạo ra dạng nửa hình ống. 2 thùy bên ôm lấy trụ, thùy thứ 3 có dạng bầu hay nhọn tạo thành hình đáy thuyền, làm chỗ đậu cho côn trùng khi đến hút mật và thụ phấn cho hoa. Giữa cánh môi có 2 gờ dọc song song màu vàng. Tận cùng bên trong có dĩa mật và đôi khi có những tuyến tiết mùi hương.

Hình thái ngoài và cấu trúc hoa Cymbidium

Hoa Cymbidium lưỡng tính, nhị đực và nhụy cái cùng gắn chung trên một trụ nhị – nhụy (hay trục hợpnhụy) hình bán trụ hơi cong về phía trước. Nhị ở trên cùng, mang 2 khối phấn màu vàng, có gót dính như keo. Khối phấn được đậy bởi một nắp màu trắng ngà dễ mở rời. Hộc chứa phấn khối của trục hợp nhụy cách với nuốm nhụy bởi một cái gờ (mỏ) nổi lên. Cấu trúc này bắt buộc trong tự nhiên hoa Cymbidium chỉ thụ phấn được nhờ côn trùng.

Sau khi thụ phấn, hoa xoay dần về vị trí cũ, bầu noãn phình lên tạo thành quả. Quả lan là một nang có 3 góc, bên trong có chứa hàng trăm ngàn hạt. Khi chín, quả mở theo 3 đường góc và gieo vào không khí những hạt như bụi phấn màu vàng lụa. Khi rơi vào nơi có điều kiện ẩm độ, ánh sáng thích hợp và có nấm cộng sinh tham gia, hạt sẽ nẩy mầm phát triển thành cây mới…

LỊCH SỬ TẠO GIỐNG

Số lượng giống lai tự nhiên – đã được thu thập – rất phong phú. Con lai tự nhiên có thể là kết quả của 2 loài giao phấn với nhau hoặc của các dòng trong cùng một loài giao phấn nhờ côn trùng. Điều kiện để một phép lai có thể xảy ra trong tự nhiên là 2 cá thể phải giống nhau về mùa hoa, cùng khu phân bố và cùng kích thước hoa. Điển hình nhất là cây lai Hồng Hoàng, con lai tự nhiên giữa cây Hồng lan (Cym. insigne) và cây Hoàng lan (Cym. giganteum). Bản thân nhóm Hồng Hoàng có rất nhiều dạng khác nhau về màu sắc cánh hoa và sắc tố đỏ trên cánh môi. Tuy nhiên, phải nhờ đến bàn tay con người, những phép lai giữa các loài rất cách biệt nhau mới có thể thực hiện. Việc tạo giống Cymbidium phát triển theo tiến trình thu thập giống hoang dại, nhờ có sự hỗ trợ của những tiến bộ sinh học, đã đạt được những kết quả không ngờ.

Khoảng đầu thế kỷ này, một số lan rừng đã được thu thập từ các vùng rừng nhiệt đới đưa về trồng ở châu Âu. Từ những giống hoang dại đó, những phép lai đã được thực hiện. Mục tiêu của những phép lai này là tạo được những giống có đặc tính kinh tế và giá trị thẩm mỹ cao như hoa nhiều, lớn, bền, màu sắc sặc sỡ. Đó cũng chính là lý do tại sao Cymbidium không phải là cây nguyên sản ở châu Âu nhưng các giống lai được nuôi trồng để cắt cành ở đây lại có số lượng rất lớn so với các châu lục khác.

Cây Cymbidium lai đầu tiên xuất hiện năm 1889 là cây Cym. eburneolowianum (Cym. eburneum x Cym.lowianum). Trong 20 năm tiếp theo, chỉ xuất hiện thêm 14 con lai nữa nhưng chúng không có giá trị cao lắm. Trong những năm đầu của thế kỷ 20, người ta tìm thấy ở Miến Điện và Đông Dương nhiều loài giá trị, nhất làCym. Parishii, Cym. insigne, Cym. erythrostylum (Bạch hồng) có màu sắc từ trắng đến hồng, chúng đã đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các con lai đẹp sau này.

Cym. hookerianum và Cym. lowianum đã được dùng để tạo ra những giống hoa màu xanh. Cym. eburneum (Bạch lan) và Cym. insigne (Hồng lan) đã cho ra các giống màu trắng và màu hồng. Cym. traceyanum cho ra các giống màu vàng. Cym. ansonii cho ra những giống màu đỏ và màu hồng. Cym. Parishiiđược dùng để tạo ra những giống có cánh môi đỏ thắm như Cymbidium Miretta.

Những công trình lai tạo, chọn giống Cymbidium vào đầu thế kỷ này đáng kể nhất là của H. G. Alexander, đã cho ra đời cây lai Cym. Alexanderi Westonbirt (Cym. eburneolowianum x Cym. insigne). Cây này cho đến nay vẫn giữ một vị trí quan trọng trong việc tạo ra các giống mới màu trắng, hồng, vàng, xanh, nhất là những giống ra hoa vào mùa thu và mùa đông. Cùng thời gian này, còn có cây lai Cym. pauwelsii (Cym. insigne x Cym. lowianum), là cây đầu dòng để tạo ra những giống có phát hoa lớn và sức phát triển mạnh như Cym. Babylon (Cym. Olympus x Cym. Pauwelsii). Đến lượt mình, Cym. Babylon lại là cây đầu dòng thông dụng để tạo ra những giống mới có màu sắc rực rỡ.

Những năm gần đây có khuynh hướng tạo ra những giống Cymbidium có màu sắc tinh khiết, không có sắc tố đỏ cả trên cánh môi. Do đó, sẽ có những giống chỉ có màu vàng, xanh hay trắng. Phương pháp để đạt kết quả này là hồi giao nhiều lần với Cym. lowianum var. Concolor (Thanh ngọc). Một hướng lai tạo khác không kém lý thú là tạo ra những giống với nhiều màu sắc rực rỡ phối hợp với nhau: màu 2 cánh hoa và cánh môi khác với màu của 3 lá đài, hoặc cánh hoa có nhiều màu tạo thành các đốm khảm. Về hình dạng hoa thì ngày càng có những giống lai mới có cánh hoa và lá đài tròn , hoa kín và tròn. Hoa nhiều trên một cành và độ bền của hoa cắt cành cũng là những đặc điểm được quan tâm khi chọn tạo giống.

Một nhóm Cymbidium khác có kích thước thân, lá, hoa nhỏ hơn, gọi chung là Cymbidium miniature, cũng được lai tạo ra và chiếm một vị trí đáng kể cạnh nhóm hoa lớn, do chúng thích hợp với điều kiện nhà ở ngày càng chật hẹp hiện nay. Những cây đầu dòng để tạo giống trong nhóm này có thể kể Cym. Devonianum (Gấm ngũ hồ); Cym. ensifolium (Mặc lan); Cym. Pumilum và Cym. tigrinum. Cym. Devonianum cho ra những giống có cành hoa buông thõng, màu xanh, vàng và nâu, cánh môi có bệt đỏ đậm; Cym. ensifolium được khai thác ở 2 đặc tính di truyền là mùa hoa (cuối hè và thu) và hương thơm. Cym. tigrinum cho ra những con lai nở hoa mùa xuân, cây thấp lùn, lá ngắn, giả hành nhỏ, hoa màu xanh đến vàng. Nhưng đáng kể nhất vẫn là Cym. Pumilumđã cho ra nhiều giống miniature màu sắc phong phú. Ưư điểm của nhóm hoa nhỏ này là yêu cầu không khắt khe lắm về nhiệt độ thấp để phân hóa hoa nên có thể nuôi trồng rộng rãi hơn ở nước ta.

Giữa những nhóm hoa lớn và hoa nhỏ cũng đã có những phép lai, tạo ra những giống Cymbidium kết hợp được đặc điểm của cả 2 nhóm: hoa lớn trung bình, số lượng hoa trên một cánh nhiều, dễ trồng trọt và năng suất hoa cao.

Việc lai tạo giống không ngừng lại ở việc thụ phấn, gieo hạt đơn giản mà còn dùng đến những kỹ thuật sinh học hiện đại để tạo ra nhiều giống đa bội… Cymbidium cũng là chi đầu tiên của hoa lan được áp dụng thành công phương pháp cấy đỉnh sinh trưởng và nhân giống vô tính hàng loạt trong ống nghiệm để có số lượng cây giống lớn, đồng nhất và sạch bệnh trong một thời gian tương đối ngắn.

Do đó, muốn phát triển việc nuôi trồng Cymbidium ở quy mô lớn hoặc để tạo ra những giống mới, cần thiết phải có một phòng thí nghiệm với đầy đủ hóa chất, thiết bị nhân cấy cây trong ống nghiệm. Đây là một bộ phận không thể thiếu được của bất kỳ cơ sở trồng lan nào trên thế giới.
CYMBIDIUM TỰ NHIÊN

Theo những kết quả điều tra định loại trước đây chi Cymbidium trong cả nước ta có khoảng 12 loài. Về mặt hình thái, có thể nói tất cả những loài này đã và đang được nuôi trồng tại Đà Lạt. Qua việc khảo sát trong tự nhiên, các loài này đều có khu phân bố với những qui luật chi phối đặc trưng, có số lượng cá thể khá lớn. Từng loài có các yếu tố cách ly rõ rệt với loài khác. Từ những khác biệt về cách sống, mùa hoa, màu sắc… cho đến những khác biệt về cơ quan sinh sản… đã giúp cho việc hình thành và ổn định các loài Cymbidium tự nhiên trên các vùng rừng núi Lâm Đồng – Đà Lạt.

Có những cá thể hay dòng vô tính của một hay một số biến chủng nào đó trong tự nhiên đã được sưu tập nuôi giữ, nhưng chưa có thể xem xét chúng nằm ở bậc phân loại nào trong hệ thống phân loại học thực vật. Cũng còn có những biến chủng giống nhau hay khác nhau về nhiều mặt, chịu tác động của những cơ chế cách ly độc đáo, nhưng hiện nay chưa thể tìm gặp được khu phân bố vì thảm rừng đã bị tàn phá nặng nề. Đó cũng là một trong những khó khăn, cần có điều kiện, thời gian và sự kiên trì của những người quan tâm, yêu thích mới có thể giải quyết được.

Giới thiệu về những loài Cymbidium tự nhiên, chúng tôi có hoài bão giúp ích phần nào cho những ai ham thích sưu tập lan rừng. Chúng tôi cố gắng mô tả các đặc điểm phân loại và môi sinh của chúng một cách chính xác nhất trong chừng mực những tài liệu thu thập được cũng như những quan sát thực tế cho phép. Qua đó, chúng tôi hy vọng người trồng lan có thể có thêm tài liệu về phả hệ của các giống lan mình đang trồng, từ đó có những biện pháp kỹ thuật đáp ứng chính xác hơn yêu cầu sinh lý, sinh thái của từng giống nhằm đạt được năng suất hoa cao nhất.

Thanh lan - Cymbium Cyperifolium

Thanh lan - Cymbium Cyperifolium

Địa sinh, giả hành nhỏ, từ 1-2 cm. Lá hẹp, dài 50-60 cm, rộng 0,8-1 cm, đầu nhọn. Cọng phát hoa từ gốc giả hành, cao 30-40 cm, đứng, mang 6 đến 8 hoa.

Đồng danh: Cymbidium cyperifolium subsp. indochinense Du Puy & P.J. Cribb 1988; Cymbidium cyperifolium var. szechuanicum (Y.S. Wu & S.C. Chen) S.C. Chen & Z.J. Liu 2003.

Tên Việt: Kiếm cói, Thanh lan (TH).

Địa sinh, giả hành nhỏ, từ 1-2 cm. Lá hẹp, dài 50-60 cm, rộng 0,8-1 cm, đầu nhọn. Cọng phát hoa từ gốc giả hành, cao 30-40 cm, đứng, mang 6 đến 8 hoa. Hoa thơm. Hoa lớn 5-6 cm, mỗi hoa có một lá bắc nhỏ. Lá đài thon, nhọn, dài 2,5-3 cm, xanh nhạt, có sọc nâu. Cánh hoa ôm lấy trục hợp nhụy, màu xanh nhạt, có sọc đậm ở gốc. Cánh môi 3 thùy không rõ, thùy giữa lớn, bầu dục, đầu tà, uốn ra sau, màu trắng xanh điểm chấm đỏ nhạt ở hai bên mép. Trục hợp nhụy màu vàng xanh.

Ra hoa tháng 12-2. Phân bố ở độ cao 1.000 m, dưới tán rừng thưa ven suối, trên đất cát bồi.Có người cho rằng có nhiều giống Cymbidium ensifolium khác nhau, nhưng thực ra chỉ có một giống và trên 30 biệt dạng khác nhau về hoa và lá.
 

Thứ Tư, 3 tháng 1, 2018

Các tiêu chí đánh giá một hoa địa lan kiếm đẹp

Địa lan kiếm được đánh giá là đẹp thường dựa vào các tiêu chí đánh giá địa lan kiếm như bảng sau:

Về ý nghĩa mầu sắc của hoa lan được ghi rõ như sau:
Mầu trắng: thanh khiết, trang nhã, cao quý.
Mầu trắng ngà: dịu dàng, thanh cao, duyên dáng
Mầu hồng, màu đỏ: rực rỡ, nồng nhiệt, may mắn.
Mầu lục: thanh tân, tao nhã, sống động, hấp dẫn.
Mầu tía: yêu kiều, đằm thắm, dịu dàng, chân thành
Mầu tím: thanh cao, đằm thắm, mộng mơ.
Mầu vàng: trong sáng, thần bí, kiêu sa, thanh nhã.
Mầu hồng đỏ: huy hoàng, hào hoa.
Mầu đen: tráng lệ, uy nghiêm, thần bí, độc đáo.
Nhiều mầu: sặc sỡ, phồn vinh – hoa lệ.
Pha lê trên cánh hoa (và trên lá): Kỳ diệu, lung linh, cao quý, trong sáng, ngọc ngà.

Mục Loại nhất Loại nhì Loại thường Không xếp loại
Mùi hương Thanh, đậm, bền nhẹ, ít bền Nhạt lạ Không có hương
Hình cánh đài cánh hoa Cánh hoa mai Cánh hoa sen Cánh hoa thuỷ tiên Lá trúc
Tư thế vai Vai bình Vai bay Vai xuôi Vai rủ
Mầu sắc Trắng, lục nhạt, pha lê Lục xẫm, cánh trả, hồng đào Da cam, đỏ xẫm Tím đen, nâu đỏ
Dáng lá Rủ vừa Dựng vừa Dựng đứng Rủ cong
Cánh môi Lưỡi đại như ý tròn to Tiểu như ý Lưỡi quăn, lưỡi nhọn Quăn nhiều, quăn treo dài

Địa lan rừng Việt Nam

Địa lan rừng Việt Nam

Tại bài viết này tôi xin được đề cập tới nhóm địa lan rừng được phân bổ tại vùng miền núi phía Bắc tạm gọi là địa lan Bắc Hà

Thưa các bác, có thể là 1 quy luật chưa được chứng minh; Những ai đã trót yêu cá thường yêu cây và ngược lại. Rất may tôi lại là 1 trong những số đó. Người xưa đã nói:"Nuôi cá dưỡng tâm, nuôi cây dưỡng trí" điều này quả thật không sai với 1 xã hội ngày càng nhiều áp lực như hiện nay, cá và cây đã mang lại cho chúng ta rất nhiều điều điều bổ ích và lý thú. Trong phạm vi của chủ đề này tôi xin được đề cập tới 1 loài cây có lẽ là đặc sản của Việt nam chúng ta - Đia lan rừng. Như các bạn đã biết đặc điểm địa lý của Việt nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều, diện tích rừng núi (còn lại sau khi phị phá hoại ) được phân bổ khá rộng từ Nam ra Bắc tạo thành 1 hệ thống thảm thực vật rất đa dạng và phong phú, bao gồm các loài phong lan và địa lan. Trong đó địa lan (Cymbidium) là 1 loài thực vật đã được đưa vào nuôi trồng nhân tạo và thưởng thức từ rất lâu. Từ thời phong kiến thú chơi địa lan rừng chỉ phát triển chủ yếu trong giới quý tộc có địa vị trong xã hội, ngày nay phong trào này đã được phát triển 1 cách rộng rãi cả chất lẫn lượng. Đã có rất nhiều các hội chơi lan được hình thành và phát triển với hàng trăm, hàng ngàn thành viên tại các địa phương. Chủng loại địa lan rừng cũng vô cùng phong phú và đa dạng.

Tại bài viết này tôi xin được đề cập tới nhóm địa lan rừng được phân bổ tại vùng miền núi phía Bắc (tạm gọi là địa lan Bắc Hà).

- Căn cứ vào vị trí địa lý, địa lan bắc hà chủ yếu được phân bổ tại vùng rừng núi khu vực phía Tây bắc và phía Đông bắc, trong đó khu vực Đông bắc bao gồm các tỉnh như: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hải Phòng, Hòa Bình... là nhiều loài đặc hữ hơn cả.

- Căn cứ vào mùa thì có thể phân Địa lan Bắc Hà ra thành 3 nhóm: Địa lan thu (ra hoa vào mùa thu như: Bạch ngọc, Tố tâm, Trần Mộng...), địa lan đông (ra hoa vào mùa đông), đia lan xuân (ra hoa vào mùa xuân như: Đại mạc, Thanh trường, Đại hoàng, Hoàng vũ, Thanh ngọc...). Trong đó lan xuân là phong phú và có nhiều chủng loại quý hơn cả.

- Căn cứ vào mầu sắc có thể chia thành các nhóm: Lan màu nâu: Đại mạc và các biến thể. Lan mầu vàng: Hoàng lan và các biến thể. Lan mầu xanh: Thanh lan và các biến thể. Lan mầu hồng: Hồng lan và các biến thể. Lan mầu trắng: Bạch lan và các biến thể. Lan mầu đen(hoặc nâu đen): Hắc lan và các biến thể. Trong đó Hồng lan và Hắc lan là 2 loài đặc hữu và quý hiếm nhất.

- Căn cứ vào tính yếu tố lịch sử thì có thể chia làm 2 nhóm: Nhóm lan truyền thống: Hoàng vũ, Thanh vũ, Mạc biên, Cẩm tố... Nhóm lan rừng mới khai thác và các biến thể: Hồng lan, Hắc lan, Thanh lan, Hoàng lan, Đại mạc...

- Ngoài ra còn có các nguồn lan nhập khẩu của của Trung Quốc, Đài Loan cũng là địa lan có nguồn gốc từ Việt Nam đã được lựa chọn, lai tạo và nhân giống ở nước ngoài.

Trên đây là 1 chút kiến thức nho nhỏ về địa lan rừng Việt Nam xin được chia xẻ cùng ae. Lúc nào có điều kiện sẽ sưu tầm và up ảnh các loại địa lan đẹp, quý hiếm để các bác thưởng thức.
Theo thành viên Longqaz trên diễn đàn Arowana.com.vn

Văn hoá thưởng thức địa lan Kiếm của người TQ và người Đông Á

Văn hoá thưởng thức địa lan Kiếm của người TQ và người Đông Á

Điều đáng chú ý nhất là các sách báo Trung Quốc viết về lan, chỉ chú trọng đến địa lan Kiếm, rất ít sách nói đến các loài lan khác. Sách hướng dẫn nuôi trồng, phân loại, săn tìm và thưởng thức địa lan Kiếm được viết liên tiếp từ đời này sang đời khác và được bổ sung không ngừng.

Đức Khổng Phu Tử (551-497 trước Công nguyên) đã lấy khí tiết của địa lan Kiếm, dù ở thâm sơn cùng cốc mà vẫn toả hương khoe sắc, để răn dạy các bậc quân tử phải gắng tu thân. Các nhà văn hoá lớn ở các triều đại Trung Quốc cũng rất ca ngợi lan như: Khuất Nguyên, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy, hay các vị Hoàng đế như Khang Hy đến các nhà cách mạng gần đây như Chu Đức, Trương Học Lương, Đổng Tất Vũ, Trần Nghị cũng làm nhiều bài thơ ca ngợi địa lan Kiếm.Lan Kiếm (Cymbidium) là một chi trong họ Lan. Lan Kiếm có những loài bám trên cây, chúng ta gọi là phong lan Kiếm (Epiphytic Cymbidium) và có những loài mọc trên đất, được gọi là địa lan Kiếm (Terrestrial Cymbidium).

Địa lan Kiếm có các đặc thù sau:

– Lá lan hẹp bản, dài, lả lướt, đầu nhọn.

– Ba cánh đài của hoa xoè rộng, hai cánh hoa hơi úp lại, che phía trên của nhuỵ hoa. Cánh môi thường cong, có điểm các màu.

– Cành hoa thẳng từ dưới lên, có loài lan cành hoa không cao hơn đám lá, nhưng nhiều loài hoa cao hơn đám lá.

– Hoa nở khá bền (từ 10 đến 30 ngày) nhiều loài hoa rất thơm nhưng dịu, không hắc như nhiều loài hoa khác.

Cuốn sách về lan đầu tiên của loài người là cuốn Kim Chương Lan Phổ của Triệu Thời Khang viết vào năm 1233 mô tả 30 loài địa lan Kiếm, chủ yếu là Mặc lan.

Cũng vào thời kỳ này Triệu Mạnh Kiên đã vẽ Xuân Lan Đồ (hiện còn được gìn giữ tại Viện Bảo tàng Cố cung Bắc Kinh).

Địa lan Kiếm sống ở các thảm rừng núi chủ yếu là ở 16 tỉnh miền Trung và Nam Trung Quốc, vô cùng phong phú. Các nhà khoa học phân loại thành 28 loài trong đó chỉ có 11 là các loài lan Kiếm mọc trên đất (địa lan Kiếm). Tuy vậy chỉ có 6 loài được tôn vinh và chăm sóc như Quốc hoa: Xuân lan (Cymbidium Goeringii), Xuân Kiếm (Cym Longibracteatum) Kiến Lan (Cym. Ensifolium), Mặc lan (Cym Sinense), Hàn lan (Cym Karan).

Điều đáng chú ý nhất là các sách báo Trung Quốc viết về lan, chỉ chú trọng đến địa lan Kiếm, rất ít sách nói đến các loài lan khác. Trong mười năm gần đây mới có sách viết về các giống phong lan lai đã nuôi trồng công nghiệp hoá như: Hồ điệp, Hoàng thảo, Cát lan.

Các loài địa lan Kiếm mọc trong rừng sâu, được tuyển lựa đưa về các vườn Thưởng uyển do các “Lan quan” chăm sóc. Sau đến dinh các vị quan lại, các mảnh vườn của các nhà văn hoá lớn, các nhà giàu có, dần dần thành một ngành trồng trọt trong dân, bên cạnh một ngành săn lùng lan trong rừng sâu, núi cao.

Sách hướng dẫn nuôi trồng, phân loại, săn tìm và thưởng thức địa lan Kiếm được viết liên tiếp từ đời này sang đời khác và được bổ sung không ngừng. Ngày nay không kể các sách viết về lan ở Trung ương mà các địa phương cũng viết rất nhiều sách về địa lan Kiếm. Nghệ thuật chụp ảnh hoa lan đạt tới trình độ cao nên ảnh trong sách rất đẹp.

Nền giáo dục cổ xưa của Trung Quốc và các nước Đông Á như: Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam thường uyên thâm, trừu tượng, liên tưởng sâu sắc từ một sự kiện cụ thể, nhỏ nhoi nhưng bao giờ cũng đi tới những hiện tượng to lớn hơn nhiều:
Ngô đồng nhất diệp lạc
Thiên hạ tận tri thu
(Một chiếc lá ngô đồng rơi, cả thiên hạ đều cảm thấy mùa thu).

Do đó các sách viết về địa lan Kiếm đều khá chú ý đến hướng dẫn chiêm ngưỡng lan và giới thiệu các lời nói của các vị hiền triết cùng với các bài thơ hay nhất nói về lan của các nhà văn hoá nổi tiếng.

Người ta phân biệt rõ hai hoạt động: chăm sóc lan là các hoạt động lí trí mang tính khoa học kỹ thuật, nhưng thưởng thức lan là hoạt động mang tính nghệ thuật, thẩm mỹ, tình cảm. Thường người ta hiểu thưởng thức địa lan Kiếm trong 4 chữ:

* Hương, Sắc, Tư, Vận

– Hương lan Kiếm được tôn là Vương giả chi hương, thiên hạ đệ nhất hương, hương thanh, không hắc, nhưng đậm đà, khó quên, thoắt ẩn thoắt hiện, như gần như xa.

– Mầu sắc của hoa lan là mầu sắc của 3 cánh đài, của 2 cánh hoa, của cánh môi, của họng hoa, của lá. Thiên nhiên đã vô cùng tỉ mỉ tuyển lựa mầu, tô vẽ cho các phần của hoa rất phong phú, nhưng thanh nhã không quá sặc sỡ.

– Tư là dáng vẻ của cây địa lan Kiếm được đánh giá thanh cao cốt cách, phong độ hiên ngang, nhưng vẫn rung rinh trước gió, hài hoà giữa cương và nhu.

– Vận là chỉ ý vị của địa lan Kiếm, đây là điều tự hào nhất của tất cả các dân tộc Đông Á – Chiêm ngưỡng lan dần dần sẽ tự thấy có sự thống nhất cái đẹp bên ngoài của cây lan với “cái thần” thẳm sâu bên trong, hình thành sự liên tưởng chặt chẽ sâu sắc, cửa sổ trí tuệ văn hoá như được mở rộng, khơi thông thế giới tinh thần, hướng tới Chân-Thiện-Mỹ.

Địa lan Kiếm đã chiếm vị trí độc tôn hàng nghìn năm trong văn hoá của người Đông Á, nhất là ở Trung Quốc, nên sự tuyển lựa và chăm sóc rất tinh vi đã hình thành các quan điểm, các học thuyết về thẩm định lan.

Quan điểm địa lan Kiếm là “Bách hoa chi anh” nên phải có sự kết hợp của hoa lan với nhiều loài hoa quý khác. Bằng các sự tuyển lựa chăm sóc đặc biệt nên hình thành rõ rệt bốn chủng lan có các cánh đài từ hình lá trúc tới hình cánh hoa sen, cánh hoa thuỷ tiên và cánh hoa mai. (Hình 1)

Quan điểm vật dĩ hy vi quý (vật hiếm được quý trọng) các giống lan có biến dị được quý hơn vì hiếm có.

– Biến dị về vị trí cánh đài ở hai bên được gọi là vai (Hình 2)

– Biến dị về lá, lá ngắn đi, có viền ở mép đầu lá, có viền ở mép từ gốc tới đầu, lá có các đốm – thường là viền có mấu trắng hoặc ngà. (Hình 3).

– Biến dị về hoa, hoa có nhiều cánh, hoa có 3 cánh môi.
– Quan điểm về thẩm định mầu sắc.

Luận về ý nghĩa mầu sắc của hoa lan được ghi rõ như sau:
Mầu trắng: thanh khiết, trang nhã, cao quý.
Mầu trắng ngà: dịu dàng, thanh cao, duyên dáng
Mầu hồng, màu đỏ: rực rỡ, nồng nhiệt, may mắn.
Mầu lục: thanh tân, tao nhã, sống động, hấp dẫn.
Mầu tía: yêu kiều, đằm thắm, dịu dàng, chân thành
Mầu tím: thanh cao, đằm thắm, mộng mơ.
Mầu vàng: trong sáng, thần bí, kiêu sa, thanh nhã.
Mầu hồng đỏ: huy hoàng, hào hoa.
Mầu đen: tráng lệ, uy nghiêm, thần bí, độc đáo.
Nhiều mầu: sặc sỡ, phồn vinh – hoa lệ.
Pha lê trên cánh hoa (và trên lá): Kỳ diệu, lung linh, cao quý, trong sáng, ngọc ngà.

Bảng phân loại lan theo các quan điểm trên.
Mục Loại nhất Loại nhì Loại thường Không xếp loại
Mùi hương Thanh, đậm, bền nhẹ, ít bền Nhạt lạ Không có hương
Hình cánh đài cánh hoa Cánh hoa mai Cánh hoa sen Cánh hoa thuỷ tiên Lá trúc
Tư thế vai Vai bình Vai bay Vai xuôi Vai rủ
Mầu sắc Trắng, lục nhạt, pha lê Lục xẫm, cánh trả, hồng đào Da cam, đỏ xẫm Tím đen, nâu đỏ
Dáng lá Rủ vừa Dựng vừa Dựng đứng Rủ cong
Cánh môi Lưỡi đại như ý tròn to Tiểu như ý Lưỡi quăn, lưỡi nhọn Quăn nhiều, quăn treo dài

Gần đây nhiều nhà nghiên cứu về thẩm định lan đưa ra việc gắn sao cho các giống lan – từ 1 sao đến 5 sao, từ lương phẩm (loại thường) đến giai phẩm, quý phẩm – cao quý phẩm cuối cùng là cực phẩm (tinh phẩm).

Các loại được xếp cực phẩm thường có nhiều biến dị về hoa và về lá và được gọi là lan nghệ thuật.

Nhiều sách của Trung Quốc cũng giới thiệu và đánh giá khá chi tiết về các giống lan ở Đài Loan, Nhật Bản và Triều Tiên.

Có 4 dòng Xuân lan nổi tiếng của Trung Quốc và người Nhật cũng ca ngợi các loài này là Tứ đại Thiên Vương của Quốc hoa Nhật. Người ta cũng so sánh thấy Xuân lan của Trung Quốc thơm hơn Xuân lan Nhật Bản, nhưng màu sắc Xuân lan của Nhật Bản lại phong phú hơn, có giống mầu vàng, màu tím, mầu đỏ, màu trắng hoặc đa sắc.

Cho đến nay hàng ngàn giống địa lan Kiếm của Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc đã được đạt tên trên cơ sở: loài lan, cánh đài giống hoa sen, hoa mai, hay hoa thuỷ tiên, mầu sắc, địa phương đặc biệt có loài hoa đó, hoặc một đặc điểm riêng Huệ lan hoàng thuỷ tiên, (Huệ lan cánh hoa thuỷ tiên mầu vàng). Liên biện lan Vân Long Hoàng hà – (Lan cánh sen vàng, rồng vần mây).

Địa lan Kiếm, có cành hoa thẳng, lá lan dài lả lướt rất thích hợp với nét vẽ mực mài bút lông nên các hoạ sỹ Đông Á tha hồ múa bút để biểu đạt lý tưởng và tình tứ, hình dáng và tinh thần gắn liền nhau, ý nghĩa rất sâu sắc.

Trong nhóm Bát quái Dương Châu (Trung Quốc) đặc biệt là Trịnh Nhiếp (tự là Bản Kiều) đã dành 50 năm của cuộc đời để vẽ về địa lan Kiếm (và tre trúc) để lại cho đời những tác phẩm rất quí giá.

Địa lan Kiếm phát triển tốt ở nhiệt độ từ 10°C đến 30°C. Đặc biệt chúng cần đêm lạnh xuống dưới 15°C và ban ngày trên 25°C để hình thành mầm hoa. Do đó chỉ ở phía Bắc của Việt Nam mới có thú chơi địa lan Kiếm.

Người nổi danh nhất trong giới chơi lan của Việt Nam là vua Trần Anh Tông (thế kỷ XIII) có Ngũ Bách Lan Viên “Vườn 500 chậu lan”. Các loài địa lan Kiếm tồn tại trong các thảm rừng ở Việt Nam tới ngày nay chỉ có 5 loài, có tên khoa học: Cymbidium Cyperifolium, Cym Ensifolium, Cym Insigne, Cym Lancifolium và Cym Sinense. Chúng bao gồm các giống lan có mầu tím sẫm, màu lục, mầu trắng, mầu vàng v.v… như: Đại Mặc, Hoàng Vũ, Thanh Trường, Bạch Ngọc v.v…

Địa lan Kiếm hoa nhỏ và không rực rỡ, hương thơm dịu nên chưa thực hấp dẫn nhiều người dân Việt Nam như hoa hồng, hoa sen, hoa huệ, hoa cúc. Vì vậy các tao nhân mặc khách yêu lan thường tự hào với nhau về câu nói cổ xưa:
Thức giả thị bảo, Bất thức giả thị thảo
Biết thì quý như báu vật – không biết thì coi như cây cỏ.

Cũng lý do đó địa lan Kiếm không phải là loài cây hoa mang tính hàng hoá như: cúc, sen, hồng, huệ v. v… Mỗi gia đình yêu lan chỉ trồng độ 5, 10 chậu, sớm chiều nâng niu chăm sóc. Khi có hoa nở lại tụ họp, trà quý, rượu ngon, những bài thơ hay được mang ra bình phẩm thâu đêm. Địa lan Kiếm là vật biếu, quà tặng rất quý giá.

Các bài tạp văn, tuỳ bút của Phạm Đình Hổ, của Nguyễn Tuân còn nói rõ thú chơi lan rất trang nhã của các nho sỹ Việt Nam thời xưa.

Tâm lý thích truyền thống, không ca ngợi biến dị nên có lẽ các giống địa lan Việt Nam còn giữ nguyên gốc tự nhiên như cánh hoa lá trúc, lá một màu lục biếc – Vài giống có biến dị về lá như Mặc biên (có viền ở lá) không quý bằng Đại mặc hoặc Ngân biên, Kim biên có viền trắng, viền vàng ở mép lá, không quý bằng Bạch Ngọc Đại Kiều v.v…

Tuy vậy có một số người chịu ảnh hưởng của các lan hữu Trung Quốc như ca ngợi Vai bằng, Vai bay hơn vai xuôi.

Nhưng sự biến dị về hoa như cả 3 cánh hoa đều biến thành cánh môi, hoặc hoa có rất nhiều cánh thì hoàn toàn không được chấp nhận. Phải chăng vì nỗi đau của cả dân tộc Việt Nam chịu đựng sử huỷ hoại của chất độc da cam làm biến dạng con người và cây cỏ nên không ưa các hoa lan biến dị được coi là quái gở.

Kiến lan (Cym Emsifilium) được đưa sang Châu Âu vào đầu thế kỷ 18. Người chơi lan Châu Âu không ưa địa lan Kiếm, chê là hoa nhỏ, màu xỉn, hương thơm gia vị. Thái độ này khác hẳn với sự nồng nhiệt đón tiếp các giống Cát lan từ Nam Mỹ tới hoặc lan Hài hồng (Paphiopedilum Delenatii) đưa từ Việt Nam sang.

Nhưng các nhà thực vật lại đánh giá cao địa lan Kiếm. Vì có khoảng nhiệt độ sống khá rộng (5°C-37°C) ít sâu bệnh và dễ lai tạo. Chính vì vậy người ta đã lai tạo ra các giống địa lan Kiếm lai, cây to hoa lớn, mầu sắc sặc sỡ, rất hợp với sở thích người Châu Âu, thích hoa được cắt cành. Người Đông Á không đón nhận các giống hoa lan lộc ngộc này.

Mặt khác, người Đông Á không bao giờ cắt cành hoa địa lan Kiếm để cắm lọ. Với quan điểm 11 tháng chơi lá, 1 tháng chơi hoa nên chậu địa lan Kiếm không có hoa vẫn là một vật trang trí lịch sự trong các phòng khách.

Trong các bài thơ về lan của Trung Quốc cũng như Việt Nam, xưa và nay có hai điều đáng nói: không có bài thơ não nùng ai oán vì liên tưởng hoa thơm chóng tàn, người đẹp thì “bạc mệnh”. Chắc vì hoa lan kiếm khá bền. Mặt khác cũng không ai buồn vì hoa lan biết nói. Nhà thơ đời Đường, Lưu Vũ Tích đã lo lắng hộ các cụ già, không còn được hưởng những cái đẹp trên đời, chỉ còn có hoa và nếu hoa biết nói
Đãn sầu hoa hữu ngữ
Bất vị lão nhân khai.
Buồn vì hoa nói lên lời
Rằng hoa chẳng nở cho người già nua
(Tản Đà dịch)

Thực ra chiêm ngưỡng hoa địa lan Kiếm cần có tâm hồn thư thái, bình tĩnh, ngồi lâu thấm thía dần dần: sắc nhã, hương dịu, dáng thanh. Điều này rất thích hợp với người cao tuổi, nhàn nhã – như vậy địa lan Kiếm đã nở hoa phục vụ các vị lão thành rồi, can chi phải lo lắng hoa lan nở cho ai!

Người Việt Nam cũng yêu quý lan lắm chứ:
Yêu mình một, quý lan mười
Chỉ một lần ngắm, trọn đời ngẩn ngơ.

Yêu lan lắm, quý lan nhiều nên người ta cũng trách lan như trách người yêu:
Hương lan, người ngọc hay lơ lững!
Chợt có rồi không đến ngỡ ngàng!

Gần đây có một nhận xét khá hay, người nào có thú chơi lan cũng trẻ hơn lên:
Ai đã mê lan chẳng thấy già
Vị nào cũng trẻ, ngỡ mười ba.

Nói vậy là nói quá – nói cho vui thôi
Sắc mầu tươi thắm, lan sau trước
Hương ngát quanh năm, mãi chẳng già.

Về mặt tâm lý, người cao tuổi chơi lan luôn luôn thấy những bông hoa lan này đang rực rỡ, nhưng lại có các nụ lan kia sắp nở – và rồi người ta mong đợi ngày mai, không sợ ngày mai, không còn thấy những chuỗi ngày dài lê thê buồn, vì luôn luôn có lan nở và lan sắp nở bên mình.

Cho đến nay ở Hà Nội, địa lan Kiếm chỉ chiếm chừng 10% trong các vườn lan (30% là phong lan rừng, 60% là phong lan lai đã được nuôi trồng công nghiệp hoá). Việc nghiên cứu nhân giống và nuôi trồng công nghiệp hoá địa lan Kiếm còn quá chậm nên các loài hoa này rất đắt. Một chậu Thanh Ngọc (5 thân, 3 giò hoa) đắt bằng 100 chậu phong lan Hoàng Thảo lai, hoặc 50 chậu phong lan Hồ Điệp lai.

Chúng ta mong rằng các nhà thực vật nghiên cứu về lan nhanh chóng làm cho mọi người Việt Nam đều có thể chiêm ngưỡng tất cả cái đẹp, cái quý của địa lan Kiếm truyền thống Việt Nam như: Thanh Ngọc, Hoàng Vũ, Thanh Trường, Đại Mặc, Trần Mộng, Tứ Thời hay Bạch Ngọc đại Kiều, Tiểu Kiều v.v…
Tên bài viết gốc: “Văn hoá thưởng thức địa lan Kiếm của người TQ và người Đông Á”; hoalanvietnam . org
Hội Lan Hà Nội
Dương Xuân Trinh

Thứ Ba, 2 tháng 1, 2018

Bệnh thối củ do vi khuẩn hại địa lan

Bệnh thối củ do vi khuẩn hại địa lan

Thời tiết thay đổi, trời mưa nhiều, vườn cây ẩm ướt không được sạch sẽ khô thoáng sẽ là những nguyên nhân gây bệnh cho cây địa lan trong vườn nhà bạn.

Dựa vào màu sắc vết bệnh có thể chia thành 2 triệu chứng bệnh khác nhau: bệnh thối nâu đen và bệnh thối nâu vàng.

Bệnh thối đen nâu: do vi khuẩn (Pseudomonas gladioli)

– Trên thân: Bệnh lây lan từ trên xuống giả hành. Vết bệnh ban đầu có màu nâu nhạt, sau chuyển sang màu nâu đen, không có dịch nhầy, có mùi hôi.

– Trên giả hành: Ban đầu bộ lá chuyển vàng nhưng chậm, giả hành mềm ít đôi khi vỏ giả hành hơi nhăn, mô giả hành có màu nâu đen, nhày ít, có mùi hôi nhẹ. Bộ lá vàng và rụng dần, giả hành mềm rỗng ruột chỉ còn lại xơ bên trong.
Bệnh thối vàng: do vi khuẩn Erwinia

– Trên thân: Mô bệnh có màu nâu vàng, vết bệnh nhầy, sũng nước, lá ngọn dễ rút ra khỏi thân chính dễ dàng, ngửi có mùi hôi rất khó chịu. Gặp thời tiết ẩm ướt mô bệnh bị thối úng, thời tiết khô hanh mô bệnh khô tóp có màu trắng xám.

– Trên giả hành: Triệu chứng nhận biết là giả hành mềm nhũn, mô giả hành có màu nâu vàng, bị nhày, ướt, ngửi có mùi rất khó chịu, không phân biệt được phần bệnh và không bệnh. Vết bệnh ban đầu có thể từ gốc bẹ lá, gốc thân ngầm, và vết cắt của phát hoa cũ.

Biện pháp phòng trừ: Rửa sạch và xử lý dụng cụ làm vườn như dao, kéo thường xuyên trong dung dịch khủ trùng bề mặt. Trồng giống cấy mô qua xác nhận sạch bệnh vi rút, không dùng cây giống trong chậu có cây mang triệu chứng bệnh. Tiêu hủy cây bệnh triệt để.

Có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc có hoạt chất sau để phòng trừ: Thuốc gốc đồng, Kasugamycin, Bismerthiazol, Cytosinpeptidemycin.

Kinh nghiệm cá nhân

1. Nhổ cây, cắt sạch các củ đã thối.
2. Ngâm cây trong dung dịch thuốc tím 1 giờ.
3. Trồng lại bằng giá thể sạch như cát càng.
4. Pha phân bón K/H 1ml/10 lít nước phun hàng ngày

Địa lan rừng hình dạng như thế nào?

Địa lan rừng hình dạng như thế nào?

Đối với cây địa lan mỗi bộ phận của nó đều có giá trị thưởng thức cao, tuy nhiên bông hoa lại có vị trí quan trọng hơn cả, nó khẳng định đẳng cấp của cây địa lan, dĩ nhiên người trồng lan sẽ căn cứ vào yếu tố này để lựa chọn. Bởi vậy tôi xin được phân tích chi tiết hơn kết cấu và phẩm chất của bông hoa

Hoa địa lan bao gồm 5 cánh (trên thực tế là 6 cánh, 1 cánh đã biến đổi thành cánh môi còn gọi là lưỡi hoa).

- 3 cánh đài (cánh ngoài) hình thuôn đầu nhọn thẳng, hơi cong hoặc cong dài khoảng từ 3-7cm, bản nhỏ từ 3-9mm thông thường mọc đều tạo thành hình tam giác đều có cạnh nối từ các đầu cánh hoa với nhau. Tuy nhiên trong thực tế có một số cây lại có cánh chia vị trí không đều nhau, 2 cánh nằm ngang có thể cụp xuống thường gọi là Vai xuôi, 2 cánh ở vị trí ngang hẳn gần như song song với mặt đất còn gọi là Vai ngang, 2 cánh ngang có xu hướng hướng lên trên còn gọi là vai bay(loại này cực hiếm).

- 2 cánh đỡ tâm (cánh trong) mọc song song với nhau đầu cánh hơi cong xòe hướng về phía trước, nếu nhìn qua ta có cảm giác như 2 cánh hoa này chưa nở hết nhưng trong thực tế nó chỉ nở đến thế(trường hợp đặc biệt có thể xòe rộng hơn nhưng tạo thành 1 góc không quá 45 độ so với 3 cánh ngoài), thông thường 2 cánh trong có mầu nhạt hơn so với cánh ngoài, nếu cánh trong có mầu giống hệt hoặc chỉ chênh lệch 1 chút với cánh ngoài là bạn đang sở hữu 1 cây hoa có mầu sắc đồng đều hiếm có đấy.

Lưỡi hoa (cánh môi) nằm ở phí dưới bông hoa nhìn từ phía trước, lưỡi hoa có thể được coi như 1 cánh hoa đã được biến đổi 1 cách đặc biệt. Nếu quan sát 1 bông hoa chúng ta sẽ thấy lưỡi hoa là 1 điểm nhấn quan trong nhất, bởi nó là bộ phận có nhiều sự khác biệt nhất khi so sánh 2 bông hoa với nhau. Thông thường lưỡi hoa có chiều dài từ 3-4cm nhưng quăn lại, chiều ngang từ 8-13mm. Mầu sắc và kết cấu của lưỡi hoa rất đang dạng, có thể khẳng định không có 2 bông hoa nào có lưỡi giống nhau nếu không ở trên cùng 1 ngồng hoa hoặc được tách triết từ 1 cây mẹ. Tuy nhiên chúng ta có thể tạm chia chúng thành các nhóm sau:

Xét về kết cấu

- Lưỡi quăn vuông: Lưỡi quăn tạo thành 1 đường thẳng nằm ngang song song với mặt đất.

- Lưỡi quăn khum: Lưỡi quăn tạo thành đường cong như dây cung.(loại này hiếm và đẹp)

- Lưỡi quăn vặn: Lưỡi quăn như hình lò xo hoặc lệch sang 1 bên.

- Lưỡi thẳng (duỗi): Lưỡi không quăn lại như bình thường mà duỗi thẳng hoặc hơi cong.(Loại này cực hiếm).

Xét về mầu sắc


- Lưỡi đa điểm(khảm): bao gồm rất nhiều các điểm chấm mầu sậm trên nền lưỡi, các chấm có to nhỏ và hình dạng tròn méo khác nhau.

- Lưỡi đa điểm đều: Là lưỡi có điểm mầu kích thước gần bằng nhau phân bố đồng đều trên nền lưỡi.( Loại này tương đối đẹp)

- Lưỡi nhất điểm: Là lưỡi chỉ có 1 điểm mầu trên nền lưỡi, có thể to hoặc nhỏ, hình dạng dài, ngắn, tròn...ở vị trí trung tâm của lưỡi.

- Lưỡi nhung: Là lưỡi được khảm bởi rất nhiều điểm chấm màu nhỏ li ti trên nền lưỡi, tạo cảm giác như tuyết nhung hoặc vân mây rất đẹp(loại này hiếm)

- Lưỡi khảm kín: Là loại lưỡi được khảm mầu kín hoặc gần kín(kín 70% là đạt yêu cầu). Loại này rất hiếm nên sưu tầm để thưởng thức.

- Lưỡi trơn: Là loại lưỡi không có điểm mầu nào trên nền lưỡi. Loại này rất hiếm đặc biệt với nền lưỡi càng sáng mầu càng quí.

Ngoài ra chúng ta còn thấy rất nhiều biến thể của lưỡi, chúng có mầu sắc, hình thể rất đa dạng và phong phú. Tôi đã từng sưu tầm được những cây hoa có lưỡi hình quả lê, lưỡi điểm hình trái tim, lưỡi trơn nền vàng... nhìn rất đẹp và quyến rũ.

Trụ nhị(mũi hoa): Là bộ phận nằm ở trung tâm bông hoa có hình khum như vỏ quả lạc úp xuống. thực tế đây là bộ phận sinh dục của bông hoa là nơi hoa thụ phấn. Mũi hoa cũng là bộ phận quan trọng của bông hoa, ở vị trí chung tâm nó tạo nên sự cân đối cho bông hoa. Thông thường mũi hoa có khảm mầu hoặc trơn, nhưng phía đầu mũi(hạt nhỏ bằng hột đỗ xanh phía ngoài cùng) luôn có mầu sáng(trắng ngà hoặc vàng) trường hợp đặc biệt có mầu nhưng rất hiếm.

Họng hoa: Là bộ phận hình ống ở phía trong bông hoa nối liền với lưỡi hoa, họng hoa có thể trơn, khảm mầu vân sọc như mang cá hoặc khảm kín 1 màu (loại này cực hiếm).

Hưong thơm:
Tại sao tôi lại phải nhấn mạnh yếu tố này bởi 1 bông hoa "hữu sắc" nhưng "vô hương" thì không khác gì 1 người đàn bà đẹp nhưng không có tâm hồn. Mọi tinh túy của nghê chơi đều nằm cả ở đây, vì 1 lý do hết sức đơn giản thôi: Hương thơm không thể tả được mà chỉ cảm được. Ai cảm thấy người ấy là vua, là người hạnh phúc nhất. Cũng như người đàn bà khi xa chồng thường mang áo của chồng ra ngửi, ấp ủ bên gối đã là quá đủ và sẽ có cảm giác hạnh phúc thực sự đấy mặc dù cái áo ấy toàn mùi mồ hôi vậy (Tôi không phải là phụ nữ, không biết nói thế có đúng không, chỉ đoán mò thôi. hihi). Xin lỗi chị em phụ nữ khi tôi xin phép được so sánh hương thơm của hoa địa lan với thơm trên thân thể các chị....nhưng đó là sự thực 100%. Hương thơm này sẽ được biến đổi theo các cảm xúc tâm lý, mỗi lúc 1 khác, khi muốn thì không thấy, bất chợt thì lại thấy, có muốn ngửi thêm cũng không được, khi không nguốn ngửi cũng phải ngửi...

Bằng tất cả những gì có thể cảm được, tôi chỉ có thể đưa ra 1 số đặc điểm như sau:


Mùi hương thoang thoảng, không sắc, không giống 1 loại nước thơm hóa học nào (Chị em bây giờ toàn xịt nước hoa thôi.hic)

Độ phát tán phụ thuộc vào nhiệt độ, đổ đậm đặc của không khí, ánh sáng, khả năng lưu thông gió (không có luồng gió = không có hương thơm).

Thay đổi theo độ chín của hoa, sức khỏe của cây.

Phụ thuộc vào không gian,thời gian thưởng thức. Tất nhiên phải có trà ngon và bạn hiền rồi.
Đây là dòng Mạc lan (đại mạc - có nơi gọi là Mặc lan) màu nâu ánh đỏ (tạm gọi là màu nâu đỏ) sinh trưởng tại vùng rừng núi ven biển thuộc tỉnh Quảng Ninh và một số vùng lân cận.

Dạng cây bụi, đa thân rễ chùm sống ở nơi đất ẩm ven suối hoặc các gộp đá, chịu nước, ưa bóng mát. Có thể ươm trồng trong chậu, nhân giống chủ yếu bằng phương pháp tách chồi và gieo hạt.

Lá dài khoảng 30-90cm, bản nhỏ 2-3cm đầu nhọn, mép lá có gai rất nhỏ, có nhiều gân chạy dọc (1 gân chính ở giữa), xếp so le 2 bên giả hành (củ) hình trứng (hoặc bầu dục), mỗi giả hành thường có từ 3-6 lá. Thân là đoạn nối giữa các giả hành nhỏ và ngắn thường nằm chìm dưới đất. Lá thường chia thành nhiều loại: lá ngắn, dài, thẳng, cong đều, cong gẫy, vặn (phản kiếm), bản to, bản nhỏ...Giả hành có các loại: hình trụ, hình trứng, hình tròn (gần như tròn), hình dẹt...

Rễ chùm hình trụ mọc ra từ giả hành, đường kính 3-4mm, rễ trưởng thành có thể dài tới hàng m, đầu rễ nhọn hình nón hơi tù. Rễ thường có mầu trắng, vỏ xốp có gân chính giữa.

Hoa thơm có ngồng mọc ra từ giả hành dáng thẳng đứng nhỏ dần lên phía trên dài khoảng 30-90cm, mỗi ngồng hoa thường có từ 5-15 bông hoa xếp so le phía trên còn gọi là phát hoa(vị trí mọc hoa). Trên ngồng hoa thường có 2-3 bao hoa giống như lá nhưng ngắn và nhỏ hơn nhiều có tác dụng bao bọc và bảo vệ ngồng hoa lúc nhỏ. Nụ hoa lúc chưa nở hình trụ(giống mỏ chim) dài khoảng 1-3cm, cuống hoa - phần nối giữa bông hoa và ngồng hoa hình trụ nhỏ dài khoảng 2-4cm có bao nhỏ ở vị trí nối với ngồng hoa. Bông hoa thường đạt khích thước từ 4-9cm(nở căng) tính từ 2 đầu cánh hoa.
Theo thành viên Longqaz trên diễn đàn arowana.com.vn

Những mẹo nhỏ trồng Địa Lan

Những mẹo nhỏ trồng Địa Lan

Một số thông tin này đã được đúc kết ra từ kinh nghiệm trồng địa lan lâu năm và chúng tôi hi vọng chia sẻ những thông tin đó với mong muốn tất cả các cây địa lan của chúng ta ngày càng phát triển khoẻ mạnh hơn.

Hiệp hội hoa lan Mỹ (The Americal Orchid Sosiety-A.O.S) đã công bố những thông tin về cách trồng những giống địa lan Mini. Chúng tôi muốn thêm vào những điều kiện phát triển chung một số điều kiện đặc biệt mà có thể ứng dụng cho Địa lan châu á nói riêng. Một số thông tin này đã được đúc kết ra từ kinh nghiệm trồng địa lan lâu năm và chúng tôi hi vọng chia sẻ những thông tin đó với mong muốn tất cả các cây địa lan của chúng ta ngày càng phát triển khoẻ mạnh hơn.

Chúng tôi đã dành cho chậu trồng lan châu á (Asian Orchid Vase) nhiều không gian trên Website này. Nếu bạn bỏ chút thời gian đọc và tìm hiểu tất cả những ghi chú ở đây thì bạn sẽ hiểu tại sao chúng tôi lại khuyến cáo bạn trồng cây trong các chậu lan Châu Á. Sức sống của của Địa lan Châu Á biểu hiện ở bộ rễ rất dài và khoẻ mạnh.

Chậu trồng mà sâu sẽ thúc đẩy sự phát triển rễ và giúp cây khỏe mạnh. Những chậu vừa sâu vừa rộng giúp cây phát triển nhiều chồi cây, nhưng hoa sẽ ít và yếu. Những chậu sâu và hẹp sẽ thúc đẩy việc cho ra những cành hoa hoa cao, khoẻ mạnh và những bông hoa đầy sức sống.

Không phải ngẫu nhiên mà mỗi địa lan Châu Á lại phát triển trong chậu có kích thước nhỏ tương tự. Chậu trồng lan Châu Á đã có sự cải tiến qua thời gian để có thể hoàn toàn cân xứng hài hoà với cây lan.

Thông tin về điều kiện phát triển chung

1. Chọn chất trồng tốt cho phù hợp với điều kiện nuôi trồng của bạn

Có nhiều loại chất trồng khác nhau sẵn có. Mỗi một kiểu chất trồng có các đặc trưng mà đặc điểm đó sẽ được cung cấp cho các điều kiện trồng khác nhau:
Những nhân tố quan trọng trong việc trộn hỗn hợp chất trồng

Giữ cho rễ ẩm nhưng không được ướt
Chất trồng phải khô ráo nhanh trong các điều kiện thời tiết
Giữ cho rễ được mát trong mùa hè và ấm trong mùa đông
Tránh để những khoảng không lớn trong hỗn hợp trồng

Việc lựa chọn hỗn hợp trồng to hay nhỏ sẽ bị tác động bởi khí hậu nơi bạn trồng, lượng thời gian mà bạn muốn dành ra để chăm sóc chu đáo cây của bạn, và những cái châu mà bạn sử dụng để trồng cây của bạn.

Khí hậu nóng và khô hơn thì cần phải có thêm chất cách nhiệt và thêm chất duy trì độ ẩm trong hỗn hợp trồng. Khí hậu mát hơn và ẩm ướt hợn thì hạn chế các chất cách nhiệt và chất giữ nước.

Vào mùa mưa, nhiệt độ môi trường cao hơn (85 độ F vào ban ngày, 65 độ F vào ban đêm) có thể trồng bằng hỗn hợp đá nhỏ và thô hoặc có thể cho thêm dương xỉ, dớn cọng vào hỗn hợp đá. Một vài người trồng lan Á Châu trong thời tiết ấm áp chỉ sử dụng đá, tuy nhiên, chúng tôi không khuyến khích dùng cách này cho những nơi có khí hậu mát mẻ hơn. Hỗn hợp giữ nước ít và không nên sử dụng trong điều kiện trồng có độ ẩm thấp.

Trong điều kiện nhiệt độ thấp hơn ( 65 độ F ban ngày, 45độ F ban đêm) với độ ẩm trung bình có thể dùng vỏ thông và đá bọt (đá trân châu thô) vào hỗn hợp đá và dương xỉ. Hỗn hợp đá, dương xỉ và vỏ thông là hỗn hợp linh hoạt nhất cho các kiểu khí hậu có mùa đông lạnh và mùa hè ấm. Vỏ thông giúp giữ lại thêm hơi ẩm trong hỗn hợp trồng.

Trong điều khiên khí hậu khô có thể dùng thêm hỗn hợp với rong biển hoặc rêu. Điều này không được lầm lẫn với việc đặt rong biển hoặc rêu lên bề mặt của hỗn hợp. Cái đó làm cho hơi ẩm chậm mất đi hoặc dùng cho mục đích trang trí. Cẩn trọng khi trộn thêm vào hỗn hợp rong biển hoặc rêu trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, nếu bạn tưới nước bình thường thì hầu như chắc chắn sẽ bị thối rễ, và làm cho cây của bạn bị ảnh hưởng, dễ nhiễm bệnh, kết quả là cây sẽ yếu dần hoặc chết.

Tại Winterview chúng tôi sử dụng một hỗn hợp của đá, vỏ thông và đá Trân châu thô khi trồng cây trong chậu nhựa. Trong chậu gốm. chúng tôi thêm chút đá hoặc đá bọt (để giữ trọng lượng của cây với vài lý do). Hỗn hợp này dùng trong chậu gốm rất tốt cho mọi khí hậu tại Mỹ, nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào về liên quan đến các điều kiện trồng của bạn, hãy gửi email cho chúng tôi các điều kiện và chúng tôi có thể giúp bạn pha trộn một hỗn hợp thay thế phù hợp hơn.

2. Thay chậu và tách chiết cây

Phương pháp sinh sản chính của loài Địa Lan Á Châu là sự phân tách cây. Những cây trong chậu sâu và rộng sẽ sản sinh ra nhiều cây con hoặc “Bulbs” (các củ, thân, bầu,…) mà sau đó có thể tách cây con từ cây chính ra. Cho dù bạn không chia tách cây thì nó vẫn cần phải được thay chậu trong 2 đến 3 năm để thayđổi hỗn hợp trồng, và sang thêm chậu cây để tạo ra các thân cây mới. Hãy nhớ rằng trong điều kiện chật chội sẽ cho nhiều nhánh hoa.

Cẩn thận đưa cây ra và lọại bỏ hết các chất trồng cũ ở rễ cây. Xem xét kỹ rễ cây, chúng sẽ mang lại cho bạn nhiều thông tin chính xác về tần số tưới nước, chất trồng và tình hình sức khoẻ chung của cây. Nếu bạn muốn tách cây chính ra thành 2-3 thân một cây mới, hãy xử lý các vết cắt bằng cách bôi lưu huỳnh vào các vết cắt đó để tránh rủi ro do sự lây lan của virus. Đặt 1 vật có hình nón trong chất trồng mới xuống dưới đáy chậu. Trải rễ cây ra vòng quanh vật hình nón. Đặt cây gần vào miệng chậu để cây có hướng phát triển rộng ra khắp mặt chậu. Cho hỗn hợp trồng mới cỡ nhỏ vào trong chậu trồng chỗ đặt cây xung quanh rễ. Thân rễ cần thấp hơn 1/2-1 in dưới bề mặt của môi trường trồng. Giữ độ ẩm cao, nhưng ngưng tưới nước vào cây để cho cây thích nghi với môi trường trồng mới (2-3 tuần). Tại Winterview chúng tôi dùng một lượng không đáng kể hỗn hợp thô dưới đáy chậu và một lượng hỗn hợp mịn bên trên chậu để kiểm soat độ ẩm tốt hơn.

3. Mua cây khoẻ mạnh

Điều này để đảm bảo thuận lợi cho việc duy trì sức sống của một cây đã trưởng thành. Khi chúng tôi thay chậu tại Winterview chúng tôi tạo ra các cây có thể trạng tố trước khi cúng tôi bán cây. COI CHỪNG những người trồng lan mà những người đó chỉ đơn thuần là đi nhập lan về và xuất bán. Những cây này sẽ yếu ớt và rễ sẽ không khoẻ để cung cấp dưỡng chất cho cây trong điều kiện khác tối ưu hơn.

Kính nghiêm: Khi mua cây, trước tiên hãy kiểm tra rễ cây. Những cây khoẻ mạnh sẽ có nhiểu rễ. Rễ cây phải trắng và mập. Tổng chiều dài của tất cả các rễ cộng lại phải lớn hơn 18 in nếu bạn trồng trong nhà nhà, phải dài hơn 12 in nếu trồng trong nhà kính. Nếu không thể kiểm tra rễ hãy cầm nhẹ nhàng vào cây và kéo mạnh ra. Một cây có bộ rễ khoẻ sẽ bám chặt vào xung quanh chậu.

Tháo cây của bạn ra một lần, đặt nó ở nơi ẩm thì nó sẽ hấp thụ ánh sáng mặt trời trong suốt một ngày. Duy trì cách tưới nước bình thường và theo dõi cây trong suốt quá trình tưới nước để thấy được nếu nó phản ứng lại với môi trường mới. Lá cây có giữ được thẳng đứng không? Lá cây màu xanh thẫm hay hơi bóng? Cây mới phải mất 3-4 tuần mới thích nghi được với môi trường mới của nó.Sử dụng những mẹo nhỏ bên dưới đây để đánh giá điều kiện trồng cây của bạn.

4. Tưới nước

Số lần tưới nước được quyết định bởi: hỗn hơp trồng và kiểu chất trồng, độ ẩm tại khu vực trồng, mùa, chậu trồng cây, nhiệt độ

Trong thời gian mùa hè, mùa phát triển chúng tôi khuyên nên 2 lần mỗi tuần, tưới nước từ mép chậu và cho nước chảy xuyên qua chậu trong 10 giây. Phân bón có thể được sử dụng sau khi tưới, dùng dưới dạng phun sương. Độ ẩm mùa hè tốt nhất nên giữ trong khoảng 75%, nhưng phải giữ cho không khí lưu thông cao suốt cả ngày.

Trong thời gian mùa đông, cần tưới nước 7-10 ngày/1 lần (tần số tưới nước 7-10 ngày). Các cây địa lan cần có thời kỳ nghỉ ngơi! Hãy giữ cho độ ẩm vào khoảng 40-60% và giữ cho không khí lưu thông.

5. Ánh sáng

Tại khí hậu phía bắc Bán cầu, che nắng khoảng 60-70% trong suốt những tháng mùa hè. Vùng khí hậu Nam bán cầu, cần tăng độ che nắng hơn. Suốt mùa đông, cần giảm che nắng và trong vùng khí hậu bắc bán cầu cần gia tăng tới 20%. Lá cây nhận được ánh sáng tốt nhất để có màu xanh bóng sâu và có đường cong duyên dáng, hài hoà. Một màu xanh vàng có thể cho biết cây đã thừa sáng. Lá cây có nếp và rủ xuống cho biết là nó thiếu ánh sáng.

6. Nhiệt độ

Sự chênh lệch nhiệt độ là nhân tố hết sức quan trọng đối với sự ra hoa. Mức chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm khoảng 20độ F là hết sức lý tưởng. Cym Karan, Cym Gorengi phụ thuộc vào nhiệt độ ban đêm gần 40-50độ F để tạo ngồng hoa. Cym Ensifolium sẽ phát hoa cùng với mức chênh lệch nhiệt đột đó. Cym Siense ưa nhiệt độ ban đêm 50-60 độ F để phát hoa, tại vùng khí hậu nơi mà nhiệt độ mùa hè ở mức cao, không khí lưu thông cần phải tăng cường

7. Phân bón

Phân bón lan cân bằng cần được sử dụng 3 tuần….? Thỉnh thoảng chậu cây cần được ngâm vào nước không pha phân bón để rửa sạch các chất muối đọng. Dừng bón phân vào mùa đông, thời kỳ cây nghỉ ngơi.

8. Làm thế nào để kiểm tra rễ cây?

Mùa xuân là thời gian tốt nhất thay chậu cho cây Địa lan Á châu của bạn và kỉêm tra rễ của chúng. Cẩn thận giữ chậu xoay theo chiều ngang để nới lỏng chất trồng. Nếu như cây có rễ chật quá bạn cần đập vỡ chậu, nhưng cần kiên nhẫn xoay và nghiêng để rũ bỏ chất trồng và nhổ cây ra khỏi chậu.

Tưới nước và bón phân cho Địa lan châu á

Tưới nước và bón phân cho Địa lan châu á

Một mẹo mà tôi học được của người trồng lan tại Trung Quốc là dùng phân bón hữu cơ thay hàng tháng thay cho phân hoá học để cung cấp cho cây các nguyên tố vi lượng.

Tưới nước

Tưới nước là một trong những công việc quan trọng nhất của việc trồng Địa lan châu á. Phong tục của Trung Hoa dạy những người trồng lan rằng “ rèn luyện trong 3 năm” để thành nghề - Kỹ năng tưới nước. Quan điểm này không hề vô lý, từ đó rút ra được tần số tưới nước. Việc tưới nước được thay đổi theo khí hậu, theo mùa, chất trồng, loài và điều kiện sinh trưởng. Kinh nghiệm chỉ thực sự có được khi trải qua một quá trình thực hành liên tục. Tuy nhiên, chúng tôi có thể cung cấp cho bạn một số hướng dấn cơ bản để giảm bớt thời kỳ học việc của bạn.

Việc kiểm soát độ ẩm như thế nào sẽ ảnh hưởng đến tần số tưới nước. Các loại nhiệt kế và ẩm kế vơí chi phí hợp lý luôn sẵn có từ hầu hết các đơn vị cung cấp nhà kính

Hiểu biết về độ ẩm và nhiệt độ là điều thiết yếu cho tất cả mọi người trồng lan. Kiểm soát độ ẩm làm cho chu kỳ tưới nước có thể dự đoán được nhiều hơn. Hãy nhớ rằng đối với cây địa lan châu á có 2 mùa tưới nước rõ rệt.

Trong mùa khô độ ẩm cần kiểm soát ở mức 40-60%. Trong thời kỳ sinh trưởng mùa hè độ ẩm cần duy trì ở mức 70-90%. Tự động điều khiển độ ẩm hoặc giải pháp tương tự như phun sương bằng tay hoặc hoặc dùng khay nước tạo độ ẩm bên dưới cây là hết sức cần thiết.

Tưới nước, bằng bình phun hoặc tưới vòi trực tiếp vào chậu cây cần phải được kiểm soát. Lượng nước tưới và độ dài thời gian nước chảy qua chất trồng làm ướt đẫm chúng. Nguyên tắc vận dụng cơ bản nhất: Cây địa lan ưa ẩm nhưng ghét nước và thích khô ráo nhưng lại ghét nóng và khô

Chương trình tưới nước cơ bản cần phải dựa trên nguyên tắc của độ ẩm như một sự ưu tiên, giữ cho sự ẩm ướt và khô ráo cân bằng nhau. Đặt ngón tay của bạn vào trong chất trồng là cách kiểm tra độ ẩm tốt nhất. Chất trồng phải ẩm nhưng không ướt và sẽ mát khi sờ vào.

Nguyên tắc bón phân

Ngạn ngữ Trung Hoa dạy “ Thà chết vì đói còn hơn là chết vì ăn no quá”. Vận dụng cho địa lan nó có nghĩa là bón phân cần phải được xem xét thận trọng, tránh để thừa. Qúa nhiều và phân bón quá mạnh sẽ làm hư hại các tế bào của rễ, ngăn cản sự quang hợp bình thường của cây và tạo ra sự thiếu hụt sinh học dẫn đến chết.

Bón phân thường xuyên định kỳ cho cây địa lan với liều lượng loãng, tuỳ thuộc vào từng loại lan. Ví dị, Ensìolim và Sinence với những chiếc lá rộng, kích cỡ cây lớn có thể chịu đựng được liều lượng phân bón nhiều hơn dòng Kanran và Georengii. Đồng thời, trong suốt thời kỳ nghỉ ngơi cần ngừng bón phân. Trong suốt thời kỳ tăng trưởng bình thường phân bón được dùng dạng dung dịch pha loãng. Một kinh nghiệm là để sử dụng phân bón cân bằng bình thường cho cây cần pha với tỉ lệ 1/5 theo liều lượng của nhà sản xuất. Phân bón Folliar được dùng với liều lượng 1/10 so với hướng dẫn.

Trong suốt thời kỳ phát triển cần bón phân mỗi tuần, vào tuần thứ 4 thay thế bằng nước sạch để rửa sạch muối đọng trên cây và chất trồng.

Một mẹo mà tôi học được của người trồng lan tại Trung Quốc là dùng phân bón hữu cơ thay hàng tháng thay cho phân hoá học để cung cấp cho cây các nguyên tố vi lượng.

Có vài loại phân bón hữu cơ được bán trên thị trường nhưng loại tôi thích được sản xuất từ phân dơi. Tôi sử dụng với nồng độ bằng 1/4.

Một mẹo để kích ra hoa cho dòng Sinence, Kanran và Georengii là giảm tưới nước đột ngột mỗi tuần 1 lần và giữ nguyên chế độ bón phân trong 2 giai đoạn xung quanh ngày 15 tháng 09. Sự khô nhẹ và thiếu Nitơ sẽ kích cho cây ra hoa.

Mẹo bón phân

Giảm mạnh phân bón trong suốt thời kỳ nghỉ ngơi, từ tháng 10 đến tháng 3. Mỗi tháng 1 lần dùng phân bón lá là đủ trong khí hậu mát mẻ.

Không bón phân khi nhiệt độ cao quá 32 độ C

Khi bón phân trong suốt mùa hè, chỉ bón phân vào lúc mát mẻ.

Khi dùng phân bón lá, làm ướt là bằng nước sạch trước khi phun phân bón. Nó làm ướt những chiếc là, rửa sạch bụi và muối đọng.

Khi bón phân lúc tưới nước, không được làm ướt lá. Tưới nước vào lá sẽ làm chậm sự hấp thụ phân bón bởi rễ.

Đối với các cây đột biến lá sử dụng phân bón có hàm lượng Nitơ thấp để tránh mất màu lá

Đừng bao giờ trộn thuốc trừ sâu với phân bón hữu cơ hoặc phân hoá học, thứ đó có thể gây ra các phản ứng hoá học có ahị và làm hư hại cây và gây ngộ độc cho chính bạn.

Dùng phân bón bổ sung

Dùng phân bón lá là một cách ngày càng phổ biến để cung cấp thêm cho thói quen bón phân bình thường. Điều này hết sức quan trọng đối với Địa lan châu á bởi vì cây có giá trị cao ở bộ lá hoàn hảo. Phân bón được dùng trực tiếp phun qua lá để hấp thụ trực tiếp vào cây. Cách này đỡ tốn phân bón hơn và giảm bớt việc tưới nước và tránh đọng muối trong chậu.

Mỗi người trồng lan ở Đài Loan, Trung Quốc và Mỹ có các bí quyết để thúc đẩy sức sống và gia tăng sự đẻ nhánh của cây. Cơ bản, nếu bạn muốn cây đẻ nhánh bạn cần sử dụng phân bón có nồng độ Nitơ cao hơn phân cân bằng tỉ lệ 20-20-20. Để thúc đẩy nở hoa dùng phân 10-30-20. Hãy nhớ phân bón lá cần phải pha thật loãng.