Trồng và chăm sóc hoa lan

Cung cấp kiến thức về kỹ thuật trồng và chăm sóc các loại hoa lan.

Cát lan - Cattleya Labiata

Cattleya Labiata - The Queen Of The Flower, xứng đáng với tên gọi Nữ hoàng của các loài hoa bởi vẻ đẹp, hương thơm, tuổi thọ và kích cỡ hoa.

Lan Hoàng thảo - Dendrobium

Là chi lan lớn thứ hai của họ nhà lan, là loại lan phổ biến nhất trong giới chơi lan.

Địa lan - Cymbidium

Địa lan luôn làm người chơi lan hài lòng bởi vẻ đẹp cao sang của chúng

Lan Vũ nữ - Oncidium

Vũ nữ còn được gọi là Dancing Lady, một loại lan dễ trồng và chăm sóc, cho hoa đều đặn hàng năm

Lan Hồ điệp - Phalaenopsis

Lan Hồ Điệp luôn được nhiều người mua trong dịp Tết Nguyên Đán

Lan Hài - Paphiopedilum

Lan Hài luôn cho người trồng những bông hoa đẹp và lạ

Vân lan - Lan Vanda

Khả năng cần nhiều ánh sáng, chịu nắng nóng có lẽ Vanda là loài tốt nhất, có lẽ vậy nên hoa Vanda luôn có màu sắc đẹp

Lan rừng

Có nhiều điều thú vị, nơi đây nói chung về các loại lan không có trong các nhóm kia

Thứ Tư, 31 tháng 1, 2018

Lan bầu rượu xuân - Calanthe rubens

Lan bầu rượu xuân - Calanthe rubens

Loài lan đất, củ giả mập, thuôn dài thường thắt lại như bầu rượu hay thuôn con quay. Lá bầu dục thuôn dài đến 40cm, rộng 15cm. Cụm hoa xuất hiện trước khi có lá. Hoa trung bình màu hồng pha tím, cánh hoa dạng trái xoan nhọn, xòe rộng.

Tên Việt Nam: Lan bầu rượu xuân
Tên Latin: Calanthe rubens
Đồng danh: Calanthe rubens Ridl..
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Cây phụ sinh Epiphytically, Saprophytes

Mô tả: Loài lan đất, củ giả mập, thuôn dài thường thắt lại như bầu rượu hay thuôn con quay. Lá bầu dục thuôn dài đến 40cm, rộng 15cm. Cụm hoa xuất hiện trước khi có lá. Hoa trung bình màu hồng pha tím, cánh hoa dạng trái xoan nhọn, xòe rộng. Cánh môi có 2 thùy bên lớn, dạng bầu dục tròn,thùy giữa rộng ở đỉnh và chia 2 thùy tròn. Cựa dạng ống hẹp, dài 1cm. Hoa nở vào mùa xuân

Phân bố: Cây được gây trồng rất rộng rãi ở các tỉnh Nam bộ và mọc rộng từ miền Trung vào miền Nam, loài này còn phân bố ở Thái Lan, Malaysia, Philippin.

Tài liệu dẫn: Phong lan Việt Nam - Trần Hợp - trang 54.
 

Lan bầu rượu tím - Calanthe vestita

Lan bầu rượu tím - Calanthe vestita

Loài lan đất, có lông mềm, củ giả cao 6cm, rộng 4cm, rễ dài. Lá xuất hiện sau khi hoa tàn, phiến lớn dài đến 45cm, rộng 7 - 12cm, có 5 gân, cuống lá 10cm. Cụm hoa dài đến 1m cong, có lông nhung, màu hung. Hoa lớn màu hồng hay tím nhạt, cánh môi rộng có 4 thùy.

Tên Việt Nam: Lan bầu rượu tím
Tên Latin: Calanthe vestita
Đồng danh: Calanthe vestita Lindl.. Calanthe regnieri Rchb.f..
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Cây phụ sinh Epiphytically, Saprophytes

Mô tả: Loài lan đất, có lông mềm, củ giả cao 6cm, rộng 4cm, rễ dài. Lá xuất hiện sau khi hoa tàn, phiến lớn dài đến 45cm, rộng 7 - 12cm, có 5 gân, cuống lá 10cm. Cụm hoa dài đến 1m cong, có lông nhung, màu hung. Hoa lớn màu hồng hay tím nhạt, cánh môi rộng có 4 thùy. Cựa dài 2 - 3,5cm.

Phân bố: Cây mọc ở Đồng Nai (Trị An, Chứa Chan, Biên Hòa) và phân bố ở Mianma, Malaysia, Inđônêxia.

Tài liệu dẫn: Phong lan Việt Nam - Trần Hợp- trang 55.
 

Lan bầu rượu nếp ba - Calanthe triplicata

Lan bầu rượu nếp ba - Calanthe triplicata

Loài lan đất, cao đến 1m, củ giả lớn, thân giả mập, dài 5cm. Lá 5 - 7 chiếc, xếp sát nhau. Hoa ở đỉnh, màu trắng có tâm vàng hay đỏ, dài đến 2cm. Cánh môi có 4 thùy cựa dài 2cm.

Tên Việt Nam: Lan bầu rượu nếp ba
Tên Latin: Calanthe triplicata
Đồng danh: Calanthe triplicata (Willem.) Ames; Calanthe veratripfolia (Willd.) Ker - Gawl
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Cây phụ sinh Epiphytically, Saprophytes

Mô tả: Loài lan đất, cao đến 1m, củ giả lớn, thân giả mập, dài 5cm. Lá 5 - 7 chiếc, xếp sát nhau, dạng thuôn rộng dài 30 - 40cm, rộng 6 - 8cm, có sọc trắng và 5 gân rõ, mép răn reo. Cuống dài 10cm. Cụm hoa dài 60 - 80cm, mọc ra giữa đám lá. Hoa ở đỉnh, màu trắng có tâm vàng hay đỏ, dài đến 2cm. Cánh môi có 4 thùy cựa dài 2cm.

Phân bố: Cây mọc rộng rãi từ Bắc (Hải Phòng, Quảng Ninh), qua miền Trung (Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Nam - Đà Nẵng, Nha Trang) và Nam Trung bộ (Đà Lạt. Langbian) đến Nam bộ (Đồng Nai, Châu Đốc. Hà Tiên...) Loài còn phân bố ở Ấn Độ, Nhật Bản, Australia và các bán đảo Thái Bình Dương.

Tài liệu dẫn: Phong lan Việt Nam - Trần Hợp- trang 55.
 

Lan bầu rượu môi đàn - Calanthe lyroglossa

Lan bầu rượu môi đàn - Calanthe lyroglossa

Loài lan đất, mọc bụi, thân rất ngắn, có bẹ. Lá hình giảI rộng, thuôn, dài 40cm, rộng 6cm, đầu nhọn, gốc thuôn hẹp thành cuống, gân bên 4 - 5. Cụm hoa thẳng dạng chùm, cao đến 40cm, hoa xếp sát nhau, màu trắng hay vàng, dài 1cm.

Tên Việt Nam: Lan bầu rượu môi đàn
Tên Latin: Calanthe lyroglossa
Đồng danh: Calanthe lyroglossa Rchb.f. Calanthe nephroidea Gagnep..
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Cây phụ sinh Epiphytically, Saprophytes

Mô tả: Loài lan đất, mọc bụi, thân rất ngắn, có bẹ. Lá hình giảI rộng, thuôn, dài 40cm, rộng 6cm, đầu nhọn, gốc thuôn hẹp thành cuống, gân bên 4 - 5. Cụm hoa thẳng dạng chùm, cao đến 40cm, hoa xếp sát nhau, màu trắng hay vàng, dài 1cm. Cánh đài bên rộng hơn cánh đài lưng, dạng thuôn bầu dục nhọn, cánh tràng thuôn hẹp. Cánh môi có 2 thùy bên nhỏ, cựa dài bằng bầu.

Phân bố: Cây mọc chủ yếu ở Nam Trung bộ: Lâm Đồng và còn phân bố ở Mianma, Trung Quốc, Philippin, Thái Lan, Malaysia.

Tài liệu dẫn: Phong lan Việt Nam - Trần Hợp - trang 53.
 

Kiều lan, lan bầu rượu - Calanthe và Dược tính

Kiều lan, lan bầu rượu - Calanthe và Dược tính

Chi lan Calanthe có khoảng trên 200 loài địa lan, mọc tại Á châu, Phi châu, Trung Mỹ và Úc châu trong đó chỉ có một it loài nguyên thủy và vài loài lai tạo là được trồng tương đối phổ biến.

Theo "Lan Rừng VN: Từ A-Z" (Bùi xuân Đáng) tại Việt Nam có 24 loài. "Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam" (Võ văn Chi) liệt kê 21 loài và "Từ điển Cây thuốc Việt Nam" (VvChi) chỉ ghi một loài có dược tính. Flora of China ghi nhận Tàu có 51 loài (trong đó nhiều loài cũng có tại VN).

Tên Calanthe, do tiếng Hy lạp : kalos= đẹp ; anthos = hoa.

Theo Nhà nghiên cứu Bùi Xuân Đáng thì GS  Phạm Hoàng Hộ đã đặt tên cho loài lan này là Kiều lan theo ý nghĩa là hoa đẹp, và GS Trần Hợp gọi tên lan bầu rượu do giả hành hơi thắt ở giữa.(có tác giả viết về lan, còn gọi là..lan 'tửu binh', tuy nhiên cũng có những cây calanthe mà giả hành không..thắt ở bụng. Flora of China gọi nhóm calanthe dưới tên Xia chi lan (chuyển thành Hán- Việt : Xia = Hà (tôm), ji = tật, còn có thể là lương (?)= lưng)

Calanthe được xem là giống lan đầu tiên được các nhà thực vật lai tạo: Cây lan Calanthe Dominyl, lai tạo giữa Cal. Furcata x Cal. Masuta được Ông Domini một nhà thực vật tại Vielch tạo ra vào năm 1853, do sự cố vấn của GS  Harris (Exeter, Anh)..Cây lan Calanthe lai tạo thứ nhì được 'đăng ký'là cây Cal. Veitchii  (lai tạo giữa Cal. rosea x vestita)..

Calanthe là loài lan rất được ưa chuộng tại Nhật, cây được nghiên cứu khá kỹ và gần như 'hoàn chỉnh' để lai tạo ra những loài tuyệt đẹp, nở hoa cả trong mùa hè..

Đặc điểm chung:

Lan Calanthe có thể chia một cách đơn giản thành 2 nhóm: rụng lá và không rụng lá.

Những loài rụng lá, được nuôi trồng rộng rãi hơn, thường có giả hành lớn màu trắng bạc, lá to, mở rộng có gân. Lan mau tàn và thường chết vào năm thứ nhì. Vào những mùa Thu, Đông, trong thời gian cây nghỉ, cây trổ hoa (thường màu trắng hay tím), nở rải rác dọc theo một cành cao, uốn cong; cần hoa này mọc lên từ gốc của giả hành đã rụng lá. Những cây lai tạo thuộc nhóm này, có thể cho hoa màu màu đỏ thắm khá đẹp  (như Calanthe Gorey X Grouville, hoa đỏ, bền, mọc trên một cần hoa dài đến 1 m)

Nhóm thứ nhì, có lá xanh quanh năm, không rụng thường là những loài nguồn gốc từ Nhật, Korea, Trung Hoa. Nhóm này có giả hành nhỏ, lá mọc thành tán trải rộng. Cành hoa mọc từ gốc, mang trên cần nhiều hoa sặc sỡ với những màu thường gặp là vàng, hồng, trắng, xanh..Những nhà trồng hoa tại Nhật đã lai tạo được nhiều chủng rất giá trị

Nhà nghiên cứu Bùi Xuân Đáng trong "Calanthe R. Brown 1821" (hoalanvietnam.org) đã ghi lại về lan Calanthe như sau :

"..Củ lan Calanthe cao khoảng 5-10 cm, đáy hơi phình ra, đầu thu nhỏ lại và chỉ sống được trên một năm. Trên đầu củ mang từ 1 đến 4 chiếc lá to bản, dài chừng 30-50 cm, rộng 10-15 cm màu xanh nõn chuối. Lá lan thường vàng úa và rụng vào cuối mùa mưa hay vào thu khi trời bắt đầu lạnh. Sau một thời gian nghỉ ngơi, chồi hoa mọc ra từ đáy củ, cao từ 20 cm đến 1 m, có từ vài hoa đến 20 chiếc. Hoa thường có màu trắng, vàng đỏ hay hồng tùy theo giống, hoa đẹp nhưng không thơm thường nở vào mùa Xuân, nhưng cũng có khi vào mùa Đông. Khi hoa tàn, mầm non mơi, có khi là một hay hai mọc ra, nhưng cũng có khi mọc ra cùng một lúc với chồi hoa..".

Calanthe có dược tính tại Việt Nam:

Calanthe triplicata

Calanthe triplicata: Kiều hoa xếp ba (PHH), Bàu rượu nếp ba (TH), Lan đất hoa trắng.

Tên tương đương: C.veratrifolia, Calanthe furcata, Orchis triplicata, Calanthe veratrifolia var. australis.

Tên thông thường: Christmas Orchid (Úc), Thrice Folded Calanthe

Trung Hoa (Flora of China): san zhe xia-ji lan; Nhật: tsuru ran

Mô tả: (Lan Rừng VN): "Địa lan, củ hình trụ, lá 5-6 chiếc to bản, mọc sát đất, dò hoa trên cao, đến 1 m, hoa 20-30 chiếc, to 2-3 cm"

Flora of China có thêm những chi tiết: Cây cao 40-100 cm, giả hành hình trụ-thuôn bầu, 1-3 x 1-2 cm, có 2-3 lá bẹ. Lá to không rụng thuôn dài hình mũi giáo 20-60 x 5-12 cm, nhám. Hoa thường màu trắng-tuyết, đôi khi đỏ tím  chuyển thành vàng cam, và khi khô thành đen..

Theo Australian Tropical Rainforests Plants: Quả thuộc loại nang hình trứng hay thuôn thành ống dài chừng 4 cm, vỏ tách theo chiều dọc nhưng vẫn dính ở đáy và ngọn. Hạt rất nhỏ, có cánh; trong có phôi màu kem.

Calanthe triplicata phân bố rộng nơi rừng ờ cao độ 700-2400 m tại Ấn độ, Bhutan, Thái, Mã lai, Nam Trung Hoa, Đông Dương (Việt, Miên, Lào), Nhật, Indonesia, Philippines, Úc, Madagascar. Tại VN: gặp khắp Bắc, Trung, Nam.

Dược học dân gian Ấn độ dùng trị bệnh bao tử và ruột. Rễ phơi khô, nhai chung với hạt cau để trị tiêu chảy và kiết lỵ. Tại Indonesia, cây dùng đăp trị vết thương, nhai trị đau răng; hoa giã nát nhét vào hốc răng bị sâu.

Thành phần hóa học:

Các phân chất tại Khoa Dược, ĐH Sri Ramachandra (Tamil Nadu, Ấn độ) ghi nhận (1 gram dịch chiết chứa ):

Phenol tổng cộng    12-29 mg
Alkaloid tổng cộng: 18- 65 mg
Flavonoids:        57-90 mg
Tannins:           38-82 mh

Hàm lượng các hoạt chất thay đổi tùy theo dung môi dùng khi chiết xuất: Dịch chiết bằng ethyl acetate cho những kết quả cao nhất  như phenol tổng cộng 29.43, tannins 82.92, alkaloids 65.34, flavonoids 90.24 (Journal of Pharmacognosy and Phytochemistry Số 2-2014)

Dịch chiết bằng ethyl acetate có hợp chất flavonol 4H-pyran-4one, 2,3-dihydro-3,5-dihydroxy-6-methyl có hoạt tính chống sưng rất đáng kể.

Nghiên cứu khoa học:

Các nghiên cứu khoa học về Calanthe triplicata tập trung vào hoạt tính chống sưng của các dịch chiết từ toàn cây bằng các dung môi khác nhau bao gồm nước, petroleum ether, chloroform, ethyl acetate, methanol, thử nghiệm về khả năng an định màng tế bào hồng cầu và ức chế sự suy thoái protein ghi nhận khả năng chống sưng ở những nồng độ khác nhau, so sánh  được với diclofenac (dùng làm chuẩn). Dịch chiết bằng ethylacetate (1000 microg/ml)  được xác nhận là có hoạt tinh mạnh nhất (Journal of Pharma Research Số 2, 2013)

Calanthe vestita

Calanthe vestita: Củ chuối (PHH); Bàu rượu tím (TH)

Tên tương đương: Calanthe grandifolia

Tên Việt khác: Lan củ chuối, củ súng ; Lan bầu rượu tím

Mô tả: (VV Chi): "Cây thảo địa sinh, có lông nhung mềm ở tất cả các bộ phận, với giả hành hình cầu dạng củ to đến 6 x 4 cm mang rễ dài và dễ bẻ vỡ. Lá xuất hiện sau khi có hoa, phiến dài 45 cm rộng 10-12 cm, dạng mảng rất nhọn, cuống lá dài 10 cm, dẹp. Cần hoa cao 80 cm, mang hoa ở 10-13 cm về phia ngọn. Hoa trắng, hồng hay hơi tím.."

Lan Rừng VN: A-Z có thêm những chi tiết: 'Địa lan, củ hình như quả bầu nậm, cao 6-8 cm, lá 3-4 chiếc dài 30-40 cm, rụng khi nở hoa. Dò hoa cao 70-90 cm có lông mềm; hoa 6-15 chiếc, to 6-7 cm, nở vào mùa Xuân.

Vùng phân bố:
Myanmar, Thái lan, Mã lai, Indonesia, Việt Nam (vùng Đồng Nai : Trị an, Djarai, Chứa Chan)

Cây được tổ chức CITES  xếp vào loại giới hạn mua bán để tránh bị tận diệt.

Củ dùng giã nát, đắp trị đau nhức xương.

Calanthe lyroglossa

Calanthe lyroglossa: Kiều lan lưỡi hình đờn (PHH), Bàu rượu môi đàn (TH)

Tên tương đương: Calanthe liukinensic (tên thường dùng trong các nghiên cứu khoa học) C. forsythifolia. Alismorchis lyroglossa

Tên Trung Hoa: nan fang xia-ji lan (nan fang= nam phương)

Mô tả (Lan Rừng VN: A-Z ) "Điạ lan, lá mọc sát gốc, dài 40 cm, rộng 6 cm. Dò hoa cao 45 cm, hoa 25-30 chiếc, to 1 cm, có hương thơm, nở vào mùa Hè, Thu"

Chi tiết bổ túc (Flora of China): Cây cao 30-50 cm, Rễ ngắn. Giả hành thuôn bầu 2-3 cm. Lá 3-5 chiếc, không rụng, hình dao thuôn dạng mũi giáo 30-60 (có khi đến 100) cm  x 3-8.5 cm, thô nhám. Hoa nhỏ màu vàng đổi thành đen khi héo.

Phân bố: Dọc ven suối trong rừng hay thung lũng, cao độ dưới 1500 m tại Đông-Bắc Ấn, Nhật, Nam Trung-Hoa (Vân Nam, Hải Nam) Nhật, Thái, Đông Dương (Việt, Miên, Lào).

Tại VN: gặp trong vùng Lai châu, Cao bằng, Lạng Sơn, đảo Phú Quốc.

Nghiên cứu khoa học:

Cây chứa nhiều hoạt chất phức tạp như calanthoside (loại indol), glucoindican, calaliukiuenoside, calaphenanthrenol; ngoài ra còn có tryptanthrin, indirubin, isatin và indican

Calanthoside khi bị thủy giải bằng men beta-glucosidase cho tryptanthrin, indirubin và isatin. (indirubin còn gọi là indigo red, một phẩm màu cũng có trong cây chàm: indigofera tinctoria)

Dịch chiết bằng methanol từ C. liukinensic và C. discolor cho thấy có hoạt tính tái tạo sự mọc tóc và giúp gia tăng sự lưu thông của máu nơi da. (Chemical & Pharmaceutical Bulletin (Tokyo) Số 46-1998)

Trypthanthrin , một alkaloid loại quinazoline, được ghi nhận là có khả năng ngăn chặn sự tạo nitric oxide và prostaglandin E2 nơi tế bào macrophage RAW 264.7. Hoạt tính ngăn chặn này có thể do ức chế tiến trình tổng hợp NO, và ức chế hoạt động của men cyclooxyganase. Do đó trypthanthrin có khả năng được dùng làm thuốc chống sưng. Ngoài ra tryptanthrin còn có hoạt tinh diệt vi khuẩn Helicobacter  pilori  khi thử cả in vitro lẫn in vivo nơi chuột bọ gerbil bị gây loét bao tử khi bị cấy vi trùng này (NPR , The Royal Society of Chemistry Số 19-2002) Vài loài Calanthe dùng làm thuốc khác:

Ngoài 3 loài Calanthe kể trên, còn có những loài được nghiên cứu về hoạt tính trị liệu và những loài được dùng trong thuốc dân gian:

Calanthe arisanensis: (đặc hữu của Taiwan)

Những hợp chất ly trính từ cây bằng ethanol như Calaquinone A, B và C (thuộc loại phenanthrenequinone) ; Calanhydroquinones A-C, calanphenanthrenes có những hoạt tính diệt tế bào ung thư khi thử trong ống nghiệm (in vitro) trên các dòng tế bào ung thư phổi (A 549), ung thư nhiếp hộ tuyến (PC-3 và DU 145), ruột (HCT-8), vú (MCF7), thanh quản (KB), ung thư thanh quản đã kháng vincristine (KB-VIN) Liều IC50 được ghi nhận là < 0.5 microg/mL). Điểm đáng chú ý là các hợp chất trên có thể giúp cải thiện sự kháng thuốc của tế bào ung thư đối với thuốc trị ung thư paclitaxel (Bioorganics & Medicinal Chemistry Letters Số 18-2008)

Calanthe dùng làm thuốc tại Ấn độ:

Calanthe plantaginea và C. puberula:

Calanthe plantaginea: Rễ phơi khô, tán thành bột, uống với sữa để làm thuốc bổ và tráng dương.

C. puberula = Kiều lan lá liềm, lan đất lá liềm, lan bầu rượu lông mềm.

Calanthe sylvatica : Kiều hoa rừng . Chang ju xia-ji lan (chang-du=trường cự). Nước chưng cất từ hoa dùng đắp và nhỏ mũi trị chảy máu cam.

Calanthe tricarinata: Lá, giả nát dùng đắp trị lở loét, ezema ngoài da. Củ và lá sắc làm thuốc bổ, tráng dương.

Calanthe tại Nhật: Calanthe discolor

Tại những vùng rừng có khí hậu ấm áp tại Nhật, một số loài Calanthe đã được tìm gặp và sau đó nuôi trồng, phát triển và lai tạo thành những cây trưng bầy rất được ưa chuộng. Hai cây quan trọng nhất là Calanthe discolor  và Calanthe sieboldii , một cây thứ ba, loại lai tạo C x bicolor  cũng được sưu tầm đến mức gần như bị tuyệt giống..

Calanthe discolor, thuộc loại không rụng lá. Giả hành thường mang 2 lá ( có khi 4 lá)  cỡ 10-30 X 5-10 cm. Giả hành nhỏ nằm dưới đất , tròn và có nếp, mọc thành chuỗi liên tục, trông giống như lưng tôm (tên tại Nhật là ebine = rễ dạng tôm). Cần hoa cao 15-35 cm, mang từ 5-20 hoa lớn chừng 3 cm, hoa hai màu: môi thường trắng có những đốm tím..

Calanthe discolor thường gặp trong khu vực từ Kyushu xuống đến vùng Nam Hokkaido.

(C. discolor cũng phân bố tại Trung Hoa và Korea. Một số dược tính được nghiên cứu chung với C. liukinensis)

Calanthe sieboldii

Calanthe sieboldii lớn hơn C. discolor. Lá có hình dạng tương tự, to hơn có thể 15-40 cm x 8-12 cm. Cần hoa cao đến trên 45 cm, mang 5 đến 25 hoa màu vàng cỡ 3-5 cm., màu có thể vàng toàn diện đến vàng-chanh. Đài hoa và cánh hoa nhọn hơn C. discolor ; môi chia 3 thùy, thùy bên rộng, thùy giữa hơi có nếp xếp. Hoa có mùi thơm dịu. Cây thường gặp tại vùng Tây Nhật, trong khu vực Kyushu đến Honshu..và tại Korea. Được xem là loài lan 'tuyệt đẹp' tại Nhật, thich hợp với tên 'Kiều hoa'. Tên Tàu là da-huang hua xia-ji lan (đại hoàng hoa)

C. x bicolor là cây lai tạo tự nhiên giữa C. sieboldii và C. discolor, hình dạng rất giống với các cây 'cha-mẹ', chỉ hơi khác biệt ở màu hoa. Hoa thường màu vàng nhạt và nâu-đỏ. Đài và cánh nâu đỏ, môi vàng nhạt và có khi gần như trắng hay có khi vàng xậm.

Tại Nhật, còn có loài Calanthe reflexa , nở hoa vào mùa Hè, cây được gọi là natsuebine (lan rễ lưng tôm mùa hè). Giả hành có 2-3 lá cỡ 15-25 cm x 5-8 cm. Dò hoa cao 35 cm mang 6-25 hoa trắng có môi tím  từ nhạt đến xậm.

Thứ Ba, 30 tháng 1, 2018

Cách chăm sóc lan bầu rượu

Cách chăm sóc lan bầu rượu

Lan bầu rượu - Calanthe thường mọc ở Trung Hoa hay Nhật Bản với hai nhóm chính là nhóm rụng lá và không rụng lá. Hiện nay loài lan này cũng được khá nhiều người Việt Nam ưa chuộng vì vậy để giúp bạn có thêm được kinh nghiệm trong việc chăm sóc cũng như trồng lan bầu rượu chúng tôi đã tổng hợp những thông tin sau đây.

Không giống với các loại lan khác, ban bầu rượu chỉ sống được trên một năm, đặc điểm của lan bầu rượu là củ cao khoảng 5 đến 10cm, ở đáy củ hơi phình to ra và phần đầu lại thu nhỏ. Trên đầu mỗi củ có khoảng 1 đến 4 chiếc lá to bản, dài chừng chừng 35-50 cm, rộng 10-15 cm mầu xanh nõn chuối.

Với cuối mùa mưa hay trời thu bắt đầu chuyển lạnh là lúc lá lan vàng rụng, sau một thời gian chúng mới bắt đầu mọc ra chồi mới từ đáy củ cao khoảng 20cm đến 1m. Số lượng hoa của nó dao động từ một vài hoa đến 20 chiếc, hoa có màu trắng, vàng, đỏ hay hồng tùy theo sở thích của người trồng mà chọn giống màu khác nhau.

Hoa không có mùi thơm nhưng rất đẹp, thời điểm trổ bông là mùa xuân nhưng thi thoảng bạn cũng sẽ thấy những cánh hoa bầu rượu nở vào mùa đông. Khi hoa tàn những mầm non mới sẽ được mọc ra khoảng một đến hai mầm tuy nhiên cũng có thời điểm cây mọc ra những chồi hoa.

Cách chăm sóc lan bầu rượu:

+ Nhiệt độ: Khi trồng lan bầu rượu bạn phải đảm bảo nhiệt độ cho cây là 55°F đến 90°F hay 12.8-32°C

+ Ánh sáng: Vì lan không chịu nơi có ánh nắng gắt nhất là thời điểm nắng từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều chính vì vậy bạn phải để cây ở chỗ râm mát. Nếu trồng đại trà bạn phải làm mái che bằng nilong hoặc lưới cho cây. Tạo độ thông thoáng cho cây quang hợp, tránh nơi có 2000 đến 2400lx.

+ Ẩm độ: Bạn phải đảm bảo độ ẩm 60-80%

+ Tưới nước và bón phân:  Khi mầm cây mọc mạnh bạn phải tưới nước thật nhiều, trung bình là 2 đến 3 lần mỗi tuần đi kèm với việc bón phân một lần trong tuần bằng loại 15-15-15 hay 20-20-20. Vào mùa thu cây rụng lá thì bạn nên quan sát xem khi nào không hẵn tưới cho cây. Để cây chỗ mát và thỉnh thoảng phun sương một lần, khi chồi hoa xuất hiện bạn cũng chỉ tươi sơ thôi.

+ Thay chậu: Mầm non cây xuất hiện bạn cắt bỏ cuống hoa và rễ chết rồi thay chậu bằng một phần đất, (potting soil), 1 phần phân bò đã mục, 1 phấn bổi rêu (peat moss) hoặc vỏ thông nhỏ và 1 phần perlite. Ban đâu bạn chỉ được tươi sơ lớp đất trên mặt, đến khi cây có rễ mới được tưới nhiều. Không được vùi củ quá sâu vì nó có thể gây thối rễ. Bạn có thể dùng chậu đất hoặc chậu nhựa miễn nó không cao quá 10cm.

Chơi Địa lan: Dễ đâu, khi thiếu kiên tâm

Chơi Địa lan: Dễ đâu, khi thiếu kiên tâm

Địa lan là các loại lan trồng trong đất, chúng tồn tại khắp các vùng đồng bằng, trung du và miền núi nước ta. Ngoài ra còn có một số loại Địa lan được nhập từ các nước trên thế giới. Đời xưa gọi lan là vương giả lương, vì hoa lan thanh nhã bất phàm...

Tính ra, Địa lan có tới vài trăm loài, mà hiện vẫn chưa có thống kê đầy đủ. Trong số ấy, không phải loài nào cũng có hương và đều được người đời ưa chuộng. Một số loại có sắc đẹp nhưng không có hương; một số khác có hương, nhưng hoa ngắn thấp lẫn vào lá mà người xưa gọi là cỏ rả, hoặc một số loại lá lại quá to, thân cây thô cứng, nên những loại ấy đều không được coi trọng và không được xếp vào hàng quý hiếm.

Các loại lan quý hiếm thường phải có hương và đặc biệt phải nở vào đúng dịp Tết Nguyên đán. Những loại này có ở Hà Nội, một số tỉnh thành phố, hoặc ở một số triền núi như Sapa, Yên Tử, chùa Hương Tích... Thông thường, một chậu Địa lan dưới mười cành có giá từ vài trăm nghìn đến vài triệu đồng tùy loại. Và tất cả đều được trồng vào các chậu đẹp, được chăm bón, giữ gìn cẩn thận. Có thể kể một số lớn Địa lan được ưa chuộng như: Thanh Lan, Mạc Lan hay Mặc Lan, Hoàng Vũ, Cầm Tố, Hoàng Điểm, Đại Hoàng, Ngân Biên, Bạch Ngọc, Trần Mộng, Đông Lan, Tứ Thời…

Trong Thanh Lan lại có ba loại: Đại Thanh, Trường Thanh và Đoản Thanh thường nở vào dịp Tết Nguyên đán. Đại Thanh là loại có màu xanh trong như ngọc, dò hoa to có đường kính gần 1cm, dài 80cm đến 1m, có nhiều hoa trên một dò, nở từng bông một từ dưới lên trên, kéo dài ba tuần mới tàn. Cây Đại Thanh có lá dài trên 60 cm, xanh biếc, cây uốn cong mềm mại, hương thoảng và lan xa. Còn Trường Thanh lại có lá dài tương tự Đại Thanh nhưng mỏng hơn chút ít, nhìn kỹ cũng không xanh biếc bằng Đại Thanh, hoa dầy và nhỏ hơn Đại Thanh, hương thơm; dò hoa có đường kính khoảng 0,8cm, cao 70-80cm. Riêng Đoản Thanh, hoa và lá đều ngắn nhỏ hơn hai loại Đại Thanh và Trường Thanh; lá dài 40cm màu diệp lục nhạt hơn Trường Thanh, dò hoa chỉ cao khoảng trên dưới 40cm; hương tỏa lan xa.

Mạc Lan có hai loại chính là Đại Mạc và Mạc Biên, ngoài ra còn có vài loại mọc trên núi, có hương, lá dài hơn hai loại hoa trên. Đại Mạc có hoa màu nâu đen (đen nhạt); lá dầy và xanh, dài 40-50cm; dò hoa cao 50-60cm. Mạc Biên, tương tự loại Đại Mạc nhưng khác ở chỗ lá có điểm trắng ở hai mép. Các cánh hoa cũng có điểm trắng mờ. Các loại Mạc Lan đều nở vào dịp Tết Nguyên đán và có hương đậm, lan xa.

Hoàng Lan có ba loại: Đại Hoàng, Hoàng Vũ, Hoàng Điểm. Trong dòng Hoàng Điểm lại chia ra làm hai loại: Hoàng Điểm họng đỏ và Hoàng Điểm họng vàng. Hoàng Điểm họng vàng có người còn gọi là Hoàng Nhị Điểm vì cánh hoa, họng hoa có hai chấm nâu nhạt. Hoàng Điểm họng đỏ có lá dài nhưng nhỏ hơn Đại Hoàng. Dò hoa bé và thấp hơn, khi hoa nở trong họng có chấm đỏ, cành vàng. Loại này không qúy bằng loại Hoàng Điểm họng vàng xẫm. Trong ba loại Hoàng Lan thì Hoàng Vũ quý hiếm hơn cả. Hoàng Vũ có màu vàng, ngọn và cánh hoa quay theo ánh sáng cong lên như múa. Lá dài trên 40 cm, hình kiếm hơi quăn nên người ta gọi là phản kiếm. Dò hoa cao và nhỏ bằng Đoản Thanh. Đại Hoàng lá to và dài tương tự Đại Thanh nhưng mỏng và màu lá nhạt hơn, về mùa hè hơi hanh vàng. Hoa thưa, mới nở màu xanh nhạt, khi nở hết màu vàng.

Lan Cầm Tố dò hoa cao từ 1-1,2m, đường kính to trên dưới 1cm. Có nhiều bông hoa trên một dò hoa. Màu hoa xanh, họng vàng, viền trắng mờ ở trên hai mép cánh. Lá bản to hơn lá Đại Thanh, dài từ 80-100cm. Hoa nở vào dịp Tết Nguyên đán. Đặc biệt hoa thưa, mịn màng đẹp như màu tơ thiên tạo, hương thơm nhẹ nhàng hấp dẫn.

Lan Ngân Biên lá nhỏ uốn cong mềm mại, hai mép lá có viền trắng; hoa vượt cao trên lá, có hương thơm lạ; chiều dài của lá khoảng 40 cm, chiều rộng 1cm vút nhỏ dần. Hoa nở vào đầu thu. Có một loại lan giống lan Ngân Biên chỉ khác lá cứng hơn thường trổ thẳng như lưỡi lê, đó là lan Kim Biên không giá trị bằng Ngân Biên.

Lan Bạch Ngọc là loại lan có hoa trắng nở vào cuối hè, lá to và ngắn hơn Ngân Biên chút ít. Có hai loại Bạch Ngọc: Bạch Ngọc Đại Diệp và Bạch Ngọc Tiểu Diệp. Loại Đại Diệp lá và hoa to hơn so với loại Tiểu Diệp, ngoài ra còn một loại Bạch Ngọc có tên gọi Bạch Ngọc Chân Hương, hoa có chấm như tàn hương phẩy vào, loại này có củ to như củ hành ta, du nhập từ Trung Quốc sang Việt Nam từ lâu nên rất hiếm. Hoa nở vào mùa hạ, hương thơm lạ thường. Khách tới nhà vừa đến ngõ đã ngửi thấy hương lan nhẹ nhàng.

Lan Trần Mộng là loại lan có dò hoa dài, màu nâu nhạt, nở vào mùa đông sang tới đầu xuân; lá dài và to ngang với lá cầm tố nhưng thon hơn và không bóng. Đông Lan là loại lan có hoa nở vào mùa đông, lá giống lá Thanh Trường nhưng không mềm mại, uyển chuyển như Thanh Lan, hoa đốm nâu vàng. Còn lan Tứ Thời là loại lan có hoa nở bốn mùa, nhưng rộ hơn vào mùa xuân; lá nhỏ và dài như lan Kim Biên nhưng không có diềm trắng ở mép lá; màu hoa nâu nhạt hơi ngả sang vàng mờ. Hoa thấp, nhưng hương rất thơm...

Khi trồng và chăm sóc Địa lan người xưa có câu “cửu nguyệt phân lan”, tức là tháng chín tách lan để trồng và thay đất. Tuy nhiên, nếu cứ tháng chín đưa lan ra để tách thì sẽ mắc sai lầm, vì có những loại lan vào thời điểm ấy đang ra hoa hoặc mầm đang nẩy, nếu ta tách lan, phân lan để trồng sẽ bị thui chột hoa và mầm. Về nguyên tắc chung khi tách lan, trồng lan là phải chơi hết rồi mới tách nên chơi một dò hoa khoảng hai tuần là vừa phải. Nếu tách cây phải xem xét kỹ sức của lan và mầm nhú lan khỏe, mầm vươn dài khoảng mười phân (10cm) mới tách. Tháng chín âm lịch là vào cuối thu, tiết trời mát dịu, vào thời điểm này các loại lan nở vào mùa hè như: Bạch Ngọc, Ngân Biên, Kim Biên, Tứ Thời… hoa đã tàn, mầm đã già có thể tách, san tỉa, sang chậu được thuận lợi. Với các loại lan nở vào dịp Tết Nguyên đán như: Thanh Lan, Mạc Lan, Cầm Tố, Hoàng Lan… thì đây là lúc cây đang ươm nụ, thậm chí có dò chăm bón tốt nụ đã trổ dài tới năm mười phân; vì vậy không nên phân lan mà chỉ cho thêm đất và bón cho chúng. Cần chú ý tuyệt đối không tưới nước tiểu thời điểm này vì mầm còn non sẽ bị xót, ắt sẽ dễ thui.

Khi trồng Địa lan không để dí đất, úng nước hoặc bị sâu rệp, lan sẽ còi cọc không phát triển được hoặc bị phá hủy. Ta nên cho một lớp vỏ ốc ở dưới, đặt lan nhẹ nhàng, với các lá theo hướng đã định. Đất càng nhẹ, làm càng kỹ càng tốt. Lớp đất trên cùng có thể to hơn các lớp đất dưới. Phần đất ấp sát củ cao trên miệng chậu để sau một thời gian tưới, đất tụt xuống dần là vừa. Nếu đất tụt xuống dưới miệng chậu, cần xếp thêm đất cho rễ và củ được mát. Chọn chậu cần chọn các chậu thoát nước, giữ được mát cho gốc cây. Có thể chọn các loại chậu cổ, nhất là chậu sành Tầu thường là cốt xốp không bị nóng chậu không làm ảnh hưởng tới lan.

Muốn cho lan tốt, khi trồng cần làm vệ sinh, bỏ hết các rễ thân thối, cọ sạch các lá sâu rệp, tách bỏ các dò bị vàng lá; dùng đất bùn ao phơi khô tẩm đạm, nước tiểu hoặc nhào đất với bùn, với phân ủ rồi mới phơi khô. Hàng tuần tưới cho lan một, hai lần bằng nước gạo, nước tiểu pha loãng, hoặc lấy nước trong từ ốc, cá ngâm không có mùi ôi thối; cần có thuốc chống sâu rệp, tránh các tia nắng hướng tây rọi vào làm táp lá; luôn nhặt các lá rụng phủ ở các gốc để tránh không bị rệp trú ẩn. Thượng tọa Huệ Đăng, người chuyên doanh Địa lan cho hay, trồng Địa lan cần phải kinh qua việc chăm sóc cây vào ngày “trái gió, trở trời”. Lan phụ thuộc rất lớn vào thời tiết lạnh, nóng và cách bón phân. Kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố này, lan sẽ ra hoa vào đúng dịp Tết, đạt tỷ lệ 80%.

Trồng lan là một nghệ thuật, có người chơi lâu cũng chưa thuộc chúng. Chơi Địa lan cần phải biết giá trị các loại lan khác nhau. Những loại lan quý, hoa phải cao vượt trên lá, hoa to và có sắc thì càng quý; hoa lâu tàn, hương lan xa; lá nhỏ, ngắn và mềm mại; dò hoa vươn lên uyển chuyển, thanh cao.
 

Dược tính lan một lá - Nervilia

Dược tính lan một lá - Nervilia

Vị ngọt nhạt, hơi đắng, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, nhuận phế, giảm ho, làm dịu đau, tán ứ.

Lan một lá, Lan cờ, thanh thiên quỳ, Trâu châu - Nervilia fordii (Hance) Schltr., thuộc họ Lan- Orchidaceae.

Mô tả: Ðịa lan nhỏ, cao 10-30cm, sống nhiều năm, lụi vào mùa khô và mọc lên hằng năm vào mùa xuân. Thân rễ tròn dạng củ. Phần trên mặt đất rất ngắn. Chỉ có một lá duy nhất; phiến hình tim tam gác, rộng 4-8cm, trên cuống dài. Cụm hoa hình bông, thường xuất hiện trước khi mọc lá; lá bắc nhọn dài 6-7mm; hoa màu trắng, đốm tím hồng, phiến hoa hình dầm, dài 1cm, môi tam giác, thuỳ nhọn tròn, có lông dày, cột cao 5-7mm.

Hoa tháng 3-4, Quả tháng 5-6.

Bộ phận dùng: Toàn cây hay củ, có khi chỉ dùng lá - Herba Nerviliae thường gọi là Thanh thiên quỳ.

Nơi sống và thu hái: Loài phân bố ở Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan. Ở nước ta lan một lá mọc trên kẽ đá, nơi rợp vùng núi đá vôi và ở nơi ẩm vùng chân núi Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Hoà Bình, Ninh Bình. Thu hái vào mùa thu, rửa sạch, phơi khô, vò nhẹ rồi phơi lại. Phơi và vò ngày 2-3 lần cho tới khô hẳn. Cũng có thể thu hái toàn cây quanh năm, dùng tươi hay phơi khô.

Tính vị, tác dụng: Vị ngọt nhạt, hơi đắng, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, nhuận phế, giảm ho, làm dịu đau, tán ứ.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: ở nước ta đồng bào sử dụng lá làm thuốc giải độc, nhất là ngộ độc nấm. Người ta dùng 2-3 lá phơi khô thái nhỏ, hãm với nước sôi trong ít phút rồi chiết nước uống. Ngày uống 2 lần. Người ta cũng dùng nó làm thuốc bồi dưỡng cơ thể, thuốc bổ và mát phổi, chữa lao phổi, ho. Ngày dùng 10-20 lá dưới dạng thuốc sắc, thuốc hãm, hấp đường hoặc chế biến thành cao lỏng để uống. Dùng ngoài lấy lá tươi giã nát, đắp lên các chỗ đau nhức hoặc đắp mụn nhọt các vết lở.

Ở Trung Quốc, toàn cây được dùng trị 1. Ho lao phổi, viêm phế quản; 2. Viêm miệng, viêm họng cấp tính, tạng lao; 3. Trẻ em hấp thụ kém và nuôi dưỡng kém; 4. Rối loạn kinh nguyệt; 5. Ðòn ngã tổn thương, viêm mủ da. Liều dùng 10-15g dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu. Dùng ngoài giã củ tươi vừa đủ đắp vào chỗ đau.

Ðơn thuốc:

1. Viêm miệng, viêm họng cấp tính: cây tươi lan một lá dùng nhai.
2. Tạng lao: Lan một lá 15g nấu với thịt lợn làm canh ăn.

3. Trẻ em hấp thụ kém và nuôi dưỡng kém: Củ lan một lá 5-10g nấu với thịt lợn nạc hoặc trứng gia cầm và ăn như thức ăn.

Ghi chú: Ở nước ta còn có một số loài khác cùng chi như Nervilia crispata (Blunne) Schltr. N.plicata (Andr) Schltr. N.prainiana (King et Pant) Seidenf, cũng có thể sử dụng.
 

Lan một lá - Nervilia

Lan một lá - Nervilia

Lan Nervilia - Diệp Tâm Lan là một loài lan sống sát mặt đất, được tìm thấy tại các vùng châu Phi, châu Úc và Châu Á và Trung Quốc như Nhật Bản, Trung và Đông Nam Á. Loài lan này có khoảng 65 giống đã dược ghi nhận cho đến ngày nay.

Việt Nam có 5 giống: Nervilia aragoana, Nervilia crispata, Nervilia fordii,Nervilia plicata và Nervilia prainiana. Cây Nervilia đầu tiên được Roptrostemom phát hiện vào năm 1828. Sở dĩ cây này có tên là Nervilia do chữ Nerve nói về những đường gân trên lá. Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đặt tên là Trân Châu và Trần Hợp gọi là Thanh Thiên Quì. Nhưng tôi nghĩ lá cây có hình trái tim, vì vậy tên Việt nên gọi là Diệp Tâm Lan. Sau đây là những cây thường thấy ở vùng Đông Nam Á Châu: