Trồng và chăm sóc hoa lan

Cung cấp kiến thức về kỹ thuật trồng và chăm sóc các loại hoa lan.

Cát lan - Cattleya Labiata

Cattleya Labiata - The Queen Of The Flower, xứng đáng với tên gọi Nữ hoàng của các loài hoa bởi vẻ đẹp, hương thơm, tuổi thọ và kích cỡ hoa.

Lan Hoàng thảo - Dendrobium

Là chi lan lớn thứ hai của họ nhà lan, là loại lan phổ biến nhất trong giới chơi lan.

Địa lan - Cymbidium

Địa lan luôn làm người chơi lan hài lòng bởi vẻ đẹp cao sang của chúng

Lan Vũ nữ - Oncidium

Vũ nữ còn được gọi là Dancing Lady, một loại lan dễ trồng và chăm sóc, cho hoa đều đặn hàng năm

Lan Hồ điệp - Phalaenopsis

Lan Hồ Điệp luôn được nhiều người mua trong dịp Tết Nguyên Đán

Lan Hài - Paphiopedilum

Lan Hài luôn cho người trồng những bông hoa đẹp và lạ

Vân lan - Lan Vanda

Khả năng cần nhiều ánh sáng, chịu nắng nóng có lẽ Vanda là loài tốt nhất, có lẽ vậy nên hoa Vanda luôn có màu sắc đẹp

Lan rừng

Có nhiều điều thú vị, nơi đây nói chung về các loại lan không có trong các nhóm kia

Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2018

Lan môi lật trung - Hetaeria alta

Lan môi lật trung - Hetaeria alta

Loài lan đất cao 20 - 30cm. 3 Lá thuôn bầu dục dài 5cm, rộng 3cm. Cụm hoa dài 5 - 7cm, hoa nhỏ 10 – 15 hoa, cánh hoa màu trắng, cánh môi nhỏ, cựa màu vàng chanh, cánh đài có lông.

Tên Việt Nam: Lan môi lật trung
Tên Latin: Hetaeria alta
Đồng danh: Hetaeria alta Ridl.1896
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ:  Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất

Mô tả: Loài lan đất cao 20 - 30cm. 3 Lá thuôn bầu dục dài 5cm, rộng 3cm. Cụm hoa dài 5 - 7cm, hoa nhỏ 10 – 15 hoa, cánh hoa màu trắng, cánh môi nhỏ, cựa màu vàng chanh, cánh đài có lông.

Phân bố: Cây mọc ở Vườn quốc gia Bạch Mã, Huế và phân bố ở Thái Lan.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
 

Lan lây ơn hoa to - Pleione grandiflora

Lan lây ơn hoa to - Pleione grandiflora

Lan đất hay sống trên các lớp thảm mục trên đá, mọc thành từng đám lớn, củ mầu xanh dài 3 - 4.5cm, ngang 1.2-1.5cm. Lá 1 chiếc. Hoa nở vào mùa Xuân. Cánh môi to, hình ống và mép có răng cưa.

Tên Việt Nam: Lan lây ơn hoa to
Tên Latin: Pleione grandiflora
Đồng danh: Pleione grandiflora (Rolfe) Rolfe, 1903. Coelogyne grandiflora Rolfe 1903; Pleione pinkepankii Braem & H.Mohr, 1989
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất  

Mô tả: Lan đất hay sống trên các lớp thảm mục trên đá, mọc thành từng đám lớn, củ mầu xanh dài 3 - 4.5cm, ngang 1.2-1.5cm. Lá 1 chiếc. Hoa nở vào mùa Xuân, cuống hoa cao 7-10cm, hoa 1 chiếc mầu hồng tím hay trắng to 10cm. Cánh môi to, hình ống và mép có răng cưa. Đối với hoa màu tím bên trong cánh môi có màu trắng và hoa màu trắng bên trong cánh môi có màu vàng.

Phân bố: Mọc ở độ cao trên 1000m ở Vườn quốc gia Hoàng Liên và ở Văn Bản, Lào Cai.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung – Web Admin
 

Lan kim tuyến sapa - Anoectochilus chapaensis

Lan kim tuyến sapa - Anoectochilus chapaensis

Cây thảo, mọc ở đất, có thân bò rồi đứng, cao 12 - 20 cm, thân non có lông ngắn. Có 3 - 5 lá hình trứng, gốc lá gần hình tim, mặt trên của lá màu đỏ nhạt với các gân màu hồng, mặt dưới màu xanh nhạt. Cụm hoa dài 5 - 6 cm, có 4 - 7 hoa màu xanh nhợt.

Tên Việt Nam: Lan kim tuyến sapa
Tên Latin: Anoectochilus chapaensis
Đồng danh: Anoectochilus chapaensis Gagnep. 1931.
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất

Đặc điểm nhận dạng: Cây thảo, mọc ở đất, có thân bò rồi đứng, cao 12 - 20 cm, thân non có lông ngắn. Có 3 - 5 lá hình trứng, gốc lá gần hình tim, mặt trên của lá màu đỏ nhạt với các gân màu hồng, mặt dưới màu xanh nhạt, kích thước 2,5 - 3 x 1,5 - 2 cm; cuống lá dài 1 - 2 cm, rộng ra thành bẹ ở gốc. Cụm hoa dài 5 - 6 cm, có 4 - 7 hoa màu xanh nhợt. Cuống và bầu dài 13 mm, có lông ngắn. Môi xanh nhợt, dài 10 - 11 mm, đỉnh rộng ra, chia 2 thùy hình trứng ngược, cụt.

Sinh học và sinh thái: Ra hoa tháng 10 - 12. Tái sinh bằng chồi và hạt. Mọc rải rác trong rừng nơi bóng, ở độ cao 1500 - 1800 m.

Phân bố:

Trong nước: Lào Cai (Sapa), Thừa Thiên - Huế (Bạch Mã).

Thế giới: Chưa biết.

Giá trị: Loài đặc hữu và nguồn gen quý của Việt Nam. Có giá trị làm cảnh vì cây có lá đẹp, màu đỏ ở mặt dưới, mặt trên có gân hồng.

Tình trạng: Khu phân bố và nơi cư trú chia cắt. Đây là đối tượng săn tìm thu hái (nhổ toàn cây) của tư thương để làm thuốc. Vì vậy, loài này có nguy cơ lâm vào tình trạng tuyệt chủng ở ngoài thiên nhiên do việc thu hái quá mức và phá rừng làm mất môi trường sinh thái và điều kiện sống.

Phân hạng: EN A1d.

Biện pháp bảo vệ: Loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá “hiếm” (Bậc R) và Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (nhóm 1) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích th­­­­ương mại. Đề nghị xây dựng khu bảo tồn và nhân giống Lan trong vườn quốc gia và di chuyển một lượng cây sống có thể về khu vực bảo tồn này và chăm sóc.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 408.

Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2018

Lan kim tuyến - kim cương

Lan kim tuyến - kim cương

Lan kim tuyến, Lan kim tuyến lông cứng, Kim tuyến, Kim tuyến tơ, Giải thủy tơ, Lan gấm, Cỏ nhung, Kim cương (Anoectochilus setaceus) là một loài thực vật điển hình của chi cùng tên (Anoectochilus).


Lan kim tuyến là một loài lan đất có mặt ở Vân Nam, Lào và Việt Nam. Chúng sinh sống trên các triền núi đá vôi, dọc theo khe suối, dưới các tán cây to trong rừng ẩm ở độ cao 500-1.600 mét.

Cây ưa độ ẩm cao và ưa bóng râm, kỵ ánh sáng, yêu cầu đất nhiều mùn, tơi xốp, thoáng khí. Cây cao 10–20 cm, thân màu tím, mọng nước, phần cây non có nhiều lông mềm, mang 2-6 lá mọc cách, xòe trên mặt đất. Lá hình trái xoan hoặc hình trứng, gần tròn ở gốc và nhọn ở đầu, dài 3–4 cm và rộng 2–3 cm, trên mỗi chiếc lá có 3-5 sọc gân dọc. Mặt trên màu nâu sậm có vệt vàng ở giữa và mạng gân màu hồng nhạt, mặt dưới màu nâu nhạt. Cuống lá dài 2–3 cm, gốc cuống tạo thành bẹ lá ôm lấy thân. Hoa mọc thành từng cụm, với cụm hoa dài 10–15 cm, mang 5-10 hoa màu hồng phủ lông đỏ, dài 2,5 cm với cánh môi dài 1,5 cm mang 6-8 ria mỗi bên, đầu môi chẻ thành 2 thùy thuôn đầu tròn. Bầu dài 13 mm, có lông thưa. Cây ra hoa vào tháng 10-12 và mùa quả chín vào tháng 12 tới tháng 3 năm sau. Có thể sinh sản vô tính chủ yếu bằng chồi và thân rễ.

Trong y học, Lan kim tuyến được sử dụng làm thuốc trị lao phổi, ho do phế nhiệt, phong thấp, đau nhức khớp xương, chấn thương, viêm dạ dày mãn tính, viêm khí quản, viêm gan mãn tính, suy nhược thần kinh; giúp tăng cường sức khoẻ, làm khí huyết lưu thông, có tính kháng khuẩn. Thành phần hóa học của lan kim tuyến bao gồm các chất như quercetin, isoharmnetin-3-O-beta-D-glucopyranosid, kaempferol-3-O-beta-D-glucopyranosid, 5-hydroxy-3'-4'-7'-trimethoxyflavonol-3-O-beta-D-rutinosid và isorhamnetin-3-O-beta-D-rutinosid.

Với đặc tính quý giá về dược liệu, lan kim tuyến được thị trường thu mua với giá khá cao, hơn 120.000 đồng VN/kg. Do số lượng ít, mọc rải rác và còn bị khai thác quá nhiều (với hình thức khai thác chặt cả cây) nên cây đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam năm 2007 theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP, xếp hạng EN A1a,c,d và bị cấm khai thác sử dụng mục đích thương mại.
 

Lan kim tuyến - Anoectochilus setaceu

Lan kim tuyến - Anoectochilus setaceu

Lan Kim Tuyến thân cây mọng nước, với kiểu lá đặc trưng hình trứng cùng màu lục sẫm với mạng gân màu lục nhạt hay màu nâu - đỏ với mạng gân màu vàng - lục hay hồng

Tên Việt Nam: Lan kim tuyến 
Tên Latin: Anoectochilus setaceu
Đồng danh:  Anoectochilus setaceus Blume, 1825. Chrysobaphus roxburghii Wall. 1826; Anoectochilus roxburghii (Wall.) Wall. ex Lindl. 1840.
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales 
Lớp (nhóm): Lan đất

Đặc điểm nhận dạng: Cây thảo, mọc ở đất, có thân rễ mọc dài; thân trên đất mọng nước và có nhiều lông mềm, mang 2 - 4 lá mọc xòe sát đất. Lá hình trứng, gần tròn ở gốc, chóp hơi nhọn và có mũi ngắn, cỡ 3 - 4 x 2 - 3 cm, có màu khác nhau với mạng gân thường nhạt hơn (màu lục sẫm với mạng gân màu lục nhạt hay màu nâu - đỏ với mạng gân màu vàng - lục hay hồng); cuống lá dài 2 - 3 cm. Cụm hoa dài 10 - 15 cm, mang 4 - 10 hoa mọc thưa. Lá bắc hình trứng, chóp thót nhọn đột ngột, dài 8 - 10 mm, màu hồng. Hoa thường màu trắng, dài 2,5 - 3 cm; các mảnh bao hoa dài khoảng 6 mm; môi dài đến 1,5 cm, ở mỗi bên gốc mang 6 - 8 dải hẹp, chóp phiến rộng, chẻ hai sâu, hốc chứa mật dài 7 mm, bầu dài 1,3 cm, màu lục, có nhiều lông mềm.

Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 2 - 4. Tái sinh bằng chồi từ thân rễ và hạt, ít và sinh trưởng rất chậm. Mọc dưới tán rừng nguyên sinh, hầu hết là nguyên thủy, rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá rộng trên sườn núi đá granit, riôlit, phiến sét, ở độ cao 500 - 1600 m, rải rác thành từng nhóm vài ba cây trên đất ẩm, rất giàu mùn và lá cây rụng.

Phân bố:

Trong nước: Lào Cai (Sapa: Phăng Xi Păng, Văn Bàn: Liêm Phú), Hà Tĩnh (Hương Sơn: Rào àn), Quảng Trị, Kontum (Đắk Glei: núi Ngọc Linh, Sa Thầy: núi Chư Mom Ray), Đắk Lắk (Krông Bông: núi Chư Yang Sinh), Lâm Đồng (Lạc Dương: núi Bì Đúp).

Thế giới: Ấn Độ, Nêpan, Butan, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaixia, Inđônêxia.

Giá trị: Cây có giá trị về mặt bảo tồn loài

Tình trạng: Loài có khu phân bố rộng nhưng với số lượng cá thể không nhiều, tái sinh chậm và đòi hỏi điều kiện sống ngặt nghèo ngày càng hiếm. Đã bị khai thác liên tục trong nhiều năm, hiện đã trở nên giảm sút rõ rệt, có nguy cơ bị tuyệt chủng.

Phân hạng: EN A1a,c,d.

Biện pháp bảo vệ: Loài có trong Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 1) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích th­­­­ương mại. Cần bảo tồn các phần quần thể nhỏ còn sót lại ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên. Bên cạnh đó cần nghiên cứu nhân giống để gieo trồng tạo hàng hóa xuất khẩu đồng thời bảo vệ nguồn gen.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 409.
 

Lan kiến cò trung bộ - Habenaria tonkinensis

Lan kiến cò trung bộ - Habenaria tonkinensis

Loài lan đất, củ thuôn, thân cao 30cm, hình trụ. Lá mọc sát đất thuôn hẹp nhọn đầu, dài 5 - 12cm, rộng 0,6 - 1,2cm. Cụm hoa bông thẳng ở đỉnh, có 15 - 20 hoa. Hoa nhỏ thưa, màu trắng hay lục nhạt.

Tên Việt Nam: Lan kiến cò trung bộ
Tên Latin: Habenaria tonkinensis
Đồng danh: Habenaria tonkinensis Seidenf.. Habenaria viridiflora auct.non (Rottl.et Sw) R.Br.
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales 
Lớp (nhóm): Lan đất

Mô tả: Loài lan đất, củ thuôn, thân cao 30cm, hình trụ. Lá mọc sát đất thuôn hẹp nhọn đầu, dài 5 - 12cm, rộng 0,6 - 1,2cm. Cụm hoa bông thẳng ở đỉnh, có 15 - 20 hoa. Hoa nhỏ thưa, màu trắng hay lục nhạt. Cánh môi có 3 thùy, hai thùy bên dạng sợi, thùy giữa ngắn hơn. Cựa hình sợi dài 1,5cm phình ở đỉnh. Hoa thơm.

Phân bố: Cây mọc ở Quảng Ninh, Lâm Đồng và phân bố ở Lào, Campuchia. Có lẽ là loài đặc hữu của Đông Dương.

Tài liệu dẫn: Phong lan Việt Nam - Trần Hợp - trang 137.
 

Lan kiến cò Tây Nguyên - Habenaria rumphii

Lan kiến cò Tây Nguyên - Habenaria rumphii

oài lan đất, thân cao đến 30cm,m củ thuôn dài 3 - 4cm. Lá dạng sợi hẹp, đầu nhọn dài 8cm, rộng 0,4 - 0,5cm, lá đỉnh thùy lá Bắc. Cụm hoa ngắn, dày, có 12 - 20 hoa màu trắng.

Tên Việt Nam: Lan kiến cò tây nguyên
Tên Latin: Habenaria rumphii
Đồng danh: Habenaria rumphii (Brogn) Lindl.
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất

Mô tả: Loài lan đất, thân cao đến 30cm,m củ thuôn dài 3 - 4cm. Lá dạng sợi hẹp, đầu nhọn dài 8cm, rộng 0,4 - 0,5cm, lá đỉnh thùy lá Bắc. Cụm hoa ngắn, dày, có 12 - 20 hoa màu trắng, sát nhau. Cánh môi có 3 thùy hẹp, cựa dài 0,5cm, màu xanh nhạt.

Phân bố: Cây mọc ở Đà Lạt (Lâm Đồng), Đắc Nông, Bình Phước (Vườn quốc gia Bù Gia Mập), Phú Quốc và phân bố ở Thái Lan, Indonesia, Philippin và new Ghine

Tài liệu dẫn: Phong lan Việt Nam - Trần Hợp - trang 137.
 

Lan kiến cò sợi - Habenaria ciliolaris

Lan kiến cò sợi - Habenaria ciliolaris

Loài lan đất, củ giả dạng cầu dài và rễ lớn, thân cao 70 - 80cm với 3 - 4 bẹ ở gốc. Lá dạng trái xoan thuôn, đầu nhọn. Cụm hoa chùm thẳng đứng. Hoa nhỡ màu trắng lục.

Tên Việt Nam: Lan kiến cò sợi
Tên Latin: Habenaria ciliolaris
Đồng danh: Habenaria ciliolaris (Lindl.) Kraenzel
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất

Mô tả: Loài lan đất, củ giả dạng cầu dài và rễ lớn, thân cao 70 - 80cm với 3 - 4 bẹ ở gốc. Lá dạng trái xoan thuôn, đầu nhọn. Cụm hoa chùm thẳng đứng. Hoa nhỡ màu trắng lục. Cánh đài lưng lõm lòng thuyền. Cánh môi có 3 thùy, hai thùy bên dài cong. Thùy giữa hình giải hẹp. Cựa dài cong, đầu phình rộng.

Phân bố: Cây mọc ở miền Bắc (Quảng Ninh), miền Trung (Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá) và phân bố ở Trung Quốc.

Tài liệu dẫn: Phong lan Việt Nam - Trần Hợp - trang 131.
 

Lan kiến cò răng - Habenaria dentata

Lan kiến cò răng - Habenaria dentata

Loài lan đất, củ tròn dài, thân cao 30 - 40cm, mang 3 - 4 lá. Lá thuôn tù có mũi nhọn ở đỉnh, dài 10cm, không cuống. Cụm hoa dài 4 - 10cm, mang 10 - 20 hoa. Hoa lớn, màu trắng

Tên Việt Nam: Lan kiến cò răng
Tên Latin: Habenaria dentata
Đồng danh: Habenaria dentata (Sw.) Schltr. Orchis dentata Sw.
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất

Mô tả: Loài lan đất, củ tròn dài, thân cao 30 - 40cm, mang 3 - 4 lá. Lá thuôn tù có mũi nhọn ở đỉnh, dài 10cm, không cuống. Cụm hoa dài 4 - 10cm, mang 10 - 20 hoa. Hoa lớn, màu trắng, cánh hoa nhỏ, cánh môi rộng ở đỉnh có 3 thùy, thùy giữa nhọn, thùy bên có răng, cựa dài 3cm, đỉnh tròn.

Phân bố: Cây mọc từ Bắc (Sơn Tây, Vĩnh Phúc, Lào Cai) qua miền Trung (Thừa Thiên - Huế) vào Nambộ (Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu) và loài còn phân bố ở Lào, Campuchia, Mianma, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Malaysia, Philippin.

Tài liệu dẫn: Phong lan Việt Nam - Trần Hợp - trang 132