Trồng và chăm sóc hoa lan

Cung cấp kiến thức về kỹ thuật trồng và chăm sóc các loại hoa lan.

Cát lan - Cattleya Labiata

Cattleya Labiata - The Queen Of The Flower, xứng đáng với tên gọi Nữ hoàng của các loài hoa bởi vẻ đẹp, hương thơm, tuổi thọ và kích cỡ hoa.

Lan Hoàng thảo - Dendrobium

Là chi lan lớn thứ hai của họ nhà lan, là loại lan phổ biến nhất trong giới chơi lan.

Địa lan - Cymbidium

Địa lan luôn làm người chơi lan hài lòng bởi vẻ đẹp cao sang của chúng

Lan Vũ nữ - Oncidium

Vũ nữ còn được gọi là Dancing Lady, một loại lan dễ trồng và chăm sóc, cho hoa đều đặn hàng năm

Lan Hồ điệp - Phalaenopsis

Lan Hồ Điệp luôn được nhiều người mua trong dịp Tết Nguyên Đán

Lan Hài - Paphiopedilum

Lan Hài luôn cho người trồng những bông hoa đẹp và lạ

Vân lan - Lan Vanda

Khả năng cần nhiều ánh sáng, chịu nắng nóng có lẽ Vanda là loài tốt nhất, có lẽ vậy nên hoa Vanda luôn có màu sắc đẹp

Lan rừng

Có nhiều điều thú vị, nơi đây nói chung về các loại lan không có trong các nhóm kia

Thứ Sáu, 21 tháng 7, 2017

Cách ươm chồi non - Keiki cho Lan thân thòng

Cách ươm chồi non - Keiki cho Lan thân thòng

Với các dòng lan thân thòng, nhân giống bằng cách ươm chồi cây non mọc ra từ thân - Keiki - cây ki là cách làm đơn giản và phổ biến nhất. Với cách này bạn sẽ có thể tạo ra số lượng cây con tương đối nhiều trong điều kiện trồng trong gia đình.

Cách 1: Theo Kinh Nghiệm và chia sẽ của BÁC Trần Thanh Hải

1/ Không nên sử dụng Atonik

Lý do mà tôi khuyên các bạn không nên dùng Atonik với những cây mà trước đó đã cho hoa là trong cây còn nhiều chất dinh dưỡng sẽ dễ làm cây bị thối thân.


Về bản chất của cây khi tới mùa hoa, tùy điều kiện thuận lợi nào đến trước như: dinh dưỡng, độ ẩm, ánh sáng… cây sẽ cho hoa nhiều hay ít hoặc sẽ không cho hoa mà cho ra toàn chồi non. Tóm gọn như vậy để cho các bạn dễ nắm bắt vấn đề hơn.
Do mùa hoa của giả hạc chủ yếu vào mùa hè, thời tiết có sự thay đổi rõ rệt từ Xuân sang Hè, ngoại trừ một số như Giả Hạc Di Linh Xuân thì đa số ra hoa vào mùa hè. Mặc khác, ở miền Nam khi chuyển từ Xuân sang Hè thì thời tiết bắt đầu nắng và nóng hơn (đã qua nhiều lần đối chứng, kiểm nghiệm) kết quả là nếu dùng Atonik liều thấp 1ml/2-3lít nước pha chung với B1 thì không sao nhưng với liều cao hơn thì chúng rất dễ làm cho những thân non, thân mới trưởng thành và vừa cho hoa rất dễ thối thân, còn thân già trên một đến 2 năm trở lên thì không ảnh hưởng nhiều lắm.

2/ Thời gian thuận lợi để ươm chồi non.

Thời điểm thuận lợi nhất là sau khi cây ra hoa, chồi non mọc dài, rễ đả nhiều và bám vào giá thể. Lúc này ta cắt thân đã ra hoa xuống ương chồi non là thuận lợi vì chất dinh dưỡng vẫn còn nhiều trong thân lan. Nếu sợ thân chồi non yếu thì ta đành phải để lại cho nuôi thân non, đến khi thân non khỏe mạnh ta vẫn có thể cắt xuống ươm chồi, nhưng đến lúc này thân già đã teo tóp lại, vẫn có thể ươm chồi được nhưng tỷ lệ thành công sẽ giảm xuống ít nhiều.

3/ Xử lý thân mẹ dùng để ươm chồi

Sau khi cắt thân mẹ định ươm chồi non xuống, nên cắt thành từng đoạn khoản 20-30cm. Nên cắt bằng vật thật sắc bén để tránh làm dập vết cắt,(vết cắt xong thì bôi keo liền sẹo Mỹ Tiến hoặc keo 502/vôi/sơn móng tay…) để vết cắt khô khoản một ngày rồi mới đem ngâm vào dùng dịch dưới đây:
1,5ml B1 + 2ml TERRA SORD 4 cho 1 lít nước
Lưu ý: Không dùng Atonik nếu thân cây mới ra hoa vì dễ làm thối thân như đã nói bên trên
Ngâm thân cây mẹ đã cắt từng đoạn vào dung dịch trên khoản 1 giờ, sau đó để thật khô khoản 4-5 giờ rồi ngâm lại lần nữa.

4/ Tiến hành ươm thân non

Đặt những đoạn thân này vào chỗ mát và ẩm. Quan trọng nhất là phần này. Với vườn nhà thì chỗ mát và ẩm thì rất đơn giản, với người trồng và chơi lan ở nhà phố thì tìm được chỗ mát và ẩm để ươm chồi non thì thật không đơn giản, nhie62ukhi loay hoay mãi mà không tìm được chỗ nào lại tốn tiền mua nguyên vật liệu để ươm chồi non.
Nhiệt độ từ 25-28 độ C rất phù hợp và thuận lợi cho việc ươm chồi non. Thế nên tốt nhất là tìm một chậu đất trồng cây trong nhà như chậu mai để ngoài sân hoặc trên sân thượng chẳng hạn, đặt vào đấy là ổn vì nền đất luôn đảm bảo có độ ẩm tương đối, tán lá của cây đảm bảo sự thoáng mát. Ta vẫn tưới cho chậu cây cảnh bình thường, nhờ đó luôn có độ ẩm đảm bảo sự sinh trưởng của chồi non. Sau từ 5 đến 8 tuần (nếu thân mẹ là thân mới) hoặc lâu hơn là 2 đến 3 tháng ( nếu là thân cũ) ta sẽ thấy từ các mắt ngủ chồi non sẽ nhú lên.
Lưu ý: Trong thời gian ươm thân non thì khoản 15 ngày một lần ta lại ngâm thân cây mẹ vào dung dịch B1 pha như trên.

5/ Chăm sóc chồi non

Nếu như chồi non đã nhú ra từ mắt ngủ thì ta sẽ tưới B1 + TERRA SORB cho chúng với liều thật loãng nhầm giúp chúng mau ra rễ hơn. Thông thường thì sau một tháng kể từ khi chồi non nhú lên sẽ ra rễ
Khi rễ ra khoản 1cm ta có thể mang ghép vào dớn hoặc gỗ nhưng phải để ở chỗ thoáng mát ( nên ghép nguyên đoạn thân mẹ) vì lúc này chồi non vẫn còn yếu nếu đem ra nắng thì chúng dễ bị chết khô.
Dinh dưỡng vào lúc này cũng là điều cần thiết, nên ta phải mạnh dạn tưới NPK 30-10-10 + B1 liều thấp khoản 1 tuần – 10 ngày một lần cho chồi non giúp chúng sinh trưởng và phát triển mạnh hơn.
Khi chồi non phát triển từ 2-3cm trở lên ta nên tăng cường ánh sáng giúp chúng phát triển nhanh hơn. Khi này thì bộ rễ cũng đã phát triển mạnh và bám chặt vào giá thể, lúc này ta cần kết hợp phân hữu cơ và vô cơ cho cây.
Nếu chăm sóc tốt thì năm đầu tiên hoặc 18 tháng sau cây sẽ cho hoa bói.

Cách 2: Theo Kinh Nghiệm và chia sẽ của BÁC GH TaLi
 
Giá thể: Than, dớn, sơ dừa, than…

Cho vụn giá thể vào hộp nhựa nắp đã có sẳn lỗ rùi, chỉ cần đục lỗ đáy ly.
Chỉ cần xịt nước, nhiệt độ và độ ẩm thích hợp mầm non (Keiki) sẽ lên hết.
Muốn nhanh có thể pha thêm etonik hoặc  B1
Để vào tối nhanh lên hơn, nhưng mầm thiếu sáng sẽ yếu ớt. Chú ý khi nào thấy giá thể trong ly gần khô mới phun sương cho ẩm lại, không được phun nhiều thân ươm có thể sẽ bị thối. tùy thuộc  vào độ khó của mắt ngủ mà thời gian nảy mầm là khoảng 1 tuần hoặc hơn.

Cách 3: Theo Kinh Nghiệm và chia sẽ của BÁC Trần Thanh Đam


Tạo keiki cho lan có nhiều cách mình có cách tạo 1 cách tự nhiên chia sẻ với ACE (mình đã thử nghiệm trong 2 năm đều thành công có thể chỉ phù hợp với diều kiện trong vườn nhà )

1. Chọn cây phát triển tốt.
2. Giai đoạn cây sắp rụng lá lấy sợi dây buộc chặt gần gốc cây (lưu ý ko làm tổn thương cây).
3. Giai đoạn cây nghỉ bình thường không tưới nước.

(*) Kết quả nó tạo ra sự ức chế tự nhiên 1 gốc có thể ra 2,3 mầm cây, còn các mắt hầu như nhảy keiki.

P/S: khó khăn nhất là dưỡng cây giai đoạn sau này, có bác nào sử dụng thuốc dưỡng keiki rồi giúp mình, mua ở đâu? hoặc cách truyền thồng thường dưỡng keiki.

* Các lưu ý khi làm theo cách này

– Thắt đủ chặt nhớ ko làm tổn thương cây nhé
– Giai đoạn đã đâm ra keiki phải tháo dây ra cho cây keiki hút được dưỡng chất từ thân mẹ

Chia sẽ của bạn Hạc Khuyên về cách nuôi keiki
Ý kiến riêng của mình về dưỡng keiki, là dùng nước vo gạo để tưới nhẹ lên ki, mình toàn dưỡng ki kiểu đó, mình đá thử được 1 năm vào cho thấy ki phát triển rất nhanh và mập, lưu ý 2 ngày tưới 1 lần vào lúc chấp tối khoảng 5-6 giờ, rất tốt vì nước vo gạo rất nhiều dưỡng chất. Khi nấu cơm hãy dùng nước vo gạo đó đổ châu riêng sau 20/30phút để nó lắng cạn bột rùi đổ nhẹ lấy phần nước trên màu hơi nâu trắng xong rùi tưới những em ki. Nếu tưới cả hoặc ngay thì bột cạn gạo chưa dk lắng thì nó dính vào gốc ki hay rễ và lúc đó sẽ là miếng mồi ngon của những lũ kiến bò đến ăn, đồng thời nó sẽ cắn hết rễ non của ki, đó là thực tế mình đá vướng phải, nếu a e thấy hợp lý thử làm theo mình kiểu gì sau 2 tuần sẽ thấy nhưng e ki mập mạp bất ngờ.

Theo LeSanh.com sưu tầm và tổng hợp

Cách nhân giống lan Thiên Nga

Cách nhân giống lan Thiên Nga

Lan Thiên Nga rất dễ nhân giống, nếu ta muốn có nhiều chậu hơn nữa từ một chậu đã có nhiều thân. Cách nhân giống đơn giản như sau:

Cách 1:

Tách chậu có nhiều thân ra thành nhiều chậu, mỗi chậu một thân. Từ một thân mẹ sẽ mọc được một, hai hoặc nhiều hơn những mầm non.
Cách 2:

Chuẩn bị 1 con dao thật bén (sắc) hoặc dao lam (khuyên dùng dao lam) khử trùng cẩn thận sau đó cắt thân mẹ ra làm vài khúc (đốt), mỗi khúc (đốt) nên có hai mắt ngủ, để cho cây con sau này phát triển lên từ những mắt ngủ này.

Chú ý: mắt ngủ nằm ở các kẽ lá đã rụng, mắt ngủ nào đã phát triển thành vòi hoa thì không còn khả năng để ra cây con nữa.

Sau khi cắt để cố định vào chậu, để nơi ẩm, mát sau hai hoặc ba tuần sẽ mọc mầm và ra rễ.

Lưu ý: Nhân giống theo cách 2 các cây Thiên Nga trưởng thành đợt đầu khó có thể to bằng cây nhân giống từ cách 1. Cây nhân giống theo cách 2 có thể có hoa (ít hoa) hoặc không tùy quá trình trồng.

Thứ Năm, 20 tháng 7, 2017

Quy trình nhân giống hoa địa lan bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào

Quy trình nhân giống hoa địa lan bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào

Việc nhân giống bằng kỹ thuật nuôi cấy mô invitro tạo ra hàng loạt cây con ổn định về mặt di truyền, cung cấp đúng thời điểm, đồng nhất về phẩm chất, kích thước, màu sắc, sạch bệnh với số lượng lớn. Bài viết này sẽ giới thiệu quy trình cơ bản nhân giống hoa địa Lan bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào

Hoa Lan là loại hoa vương giả, với vẻ đẹp quý phái, nên khắp nơi trên thế giới ngày càng có nhiều người thích chơi hoa lan. Chính vì vậy hoa Lan là sản phẩm trồng trọt luôn có giá trị kinh tế cao bắt nhịp với thị trường hiện nay. Ngày nay đã xuất hiện nhiều cơ sở kinh doanh hoa lan với nhiều chủng loại khác nhau. Do đó việc nhân giống bằng kỹ thuật nuôi cấy mô invitro tạo ra hàng loạt cây con ổn định về mặt di truyền, cung cấp đúng thời điểm, đồng nhất về phẩm chất, kích thước, màu sắc, sạch bệnh với số lượng lớn.

Sau đây tôi xin giới thiệu quy trình cơ bản nhân giống hoa địa Lan bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào:

1. Giai đoạn chọn mẫu.

Mẫu phải lấy từ cây mẹ hoặc cây đầu dòng đã được tuyển chọn.

– Cách chọn mẫu quả: quả to, không bị sâu bệnh, vừa đến độ chín vào tháng 8-9 là tốt nhât.

– Cách chọn mẫu chồi: Mẫu càng nhỏ, càng ngắn càng tốt, song chỉ nhỏ đến mức cho phép.Vì mẫu càng to khả năng nhiễm khuẩn càng lớn.

2. Khử trùng mẫu cấy.

– Cách khử trùng mẫu quả: Quả lấy về cắt bỏ vợi phần cuống sau đó rửa với nước cất 4-5 lần → rửa bằng xà phòng→ rửa bằng nước cất 4-5 lần→ rửa bằng cồn 700.

– Cách khử trùng mẫu chồi: Chồi mang về cắt bỏ bớt phần lá rồi rửa bằng nước cất 4-5 lần→ rửa bằng xà phòng→ rửa nước cất 4-5 lần→ rửa bằng cồn70o. Khử trùng trong tủ cấy

– Khử trùng mẫu quả: Rửa lại với nước cất vô trùng 4-5 lần → ngâm trong HgCl2 0,1% 10-12 phút → rửa nước cất vô trùng 4-5 lần, sau đó gắp vào đĩa petri vô trùng, dùng dao cấy, panh cấy lấy hạt ra đưa vào môi trường nhân giống ban đầu.

– Khử trùng mẫu chồi: Rửa lại với nước cất vô trùng 4-5 lần → ngâm trong HgCl2 0,1% trong vòng 5-7 phút → rửa với nước cất vô trùng 4-5 lần→ gắp mầm ra đĩa petri vô trùng rồi cẩn thận tách hết các lá non → Khử lại bằng HgCl2 0,1% trong vòng 1 phút → rửa với nước cất vô trùng 4-5 lần→ đưa chồi vào môi trường nhân giống ban đầu.

3. Nhân giống (Nhân nhanh)

Môi trường nhân giống hoa địa lan là môi trường MS (Murashigeskoog,1962) và có bổ sung các chất điều hòa sinh trưởng với tỉ lệ phù hợp tùy loài.

– Môi trường vào mẫu hạt:

MS + 100ml nước dừa + 20g đường + 50g khoai tây + 5,2g agar/1 lít.

Sau 6-8 tuần cấy chuyển sang môi trường nhân nhanh.

MS + 100ml nước dừa+ 1mg Kinitin + 20g đường + 5,2g agar/ 1 lít

Sau 8-12 tuần cấy chuyển sang môi trường ra rễ

– Môi trường vào mẫu chồi:

Môi trường vào chồi ban đầu:

MS + 100ml nước dừa + 10g đường + 1,5mg BA + 4,6g agar/1 lít,

Sau 6-8 tuần chuyển sang môi trường nuôi cấy lát mỏng

MS + 100ml nước dừa + 10g đường + 1mg Kinitin + 4,6g agar/1 lít

Sau 6- 8 tuần chuyển sang môi trường nhân nhanh.

MS + 100ml nước dừa + 1mg Kinitin + 20g đường + 5,2g agar/ 1lít

Lưu ý: Nhiệt độ thích hợp để nhân giống địa lan là 22 – 26°C, pH thích hợp 5,5 – 6.

4. Tái sinh cây hoàn chỉnh in vitro

– Khi số cây giống đạt tiêu chuẩn cần thiết, chúng ta cấy chuyển sang môi trường ra rễ (MS + 10g đường+ 0,3mg NAA + 1g than hoạt tính + 5,2g agar/1 lít)

5. Chuyển cây ra vườn ươm

Khi cây đạt tiêu chuẩn cao 5-7cm, 3-4 lá, có rễ thật dài 3-4cm chúng ta tiến hành ra cây với giá thể dớn, dinh dưỡng. N:P:K + vi lượng + Vi ta min sau 3-4 tháng đưa ra vườn sản suất.

Nhân giống lan dendro Thái

Nhân giống lan dendro Thái

Hoa lan dendro thường có đặc điểm lá xanh quanh năm và hoa mọc ở gần ngọn, đã và đang được giới chơi lan săn lùng. Để có những chậu hoa lan đẹp bạn cần phải biết cách nhân giống giúp duy trì và có những chậu mới.

Các cây lan dendro con mọc trên ngọn thân thì phương pháp nhân giống đơn giản. Bạn tách rời cây con khỏi thân cây mẹ bằng một vết cắt chỗ tiếp giáp. Một số người sợ rằng, với cách cắt như trên cây sẽ không đảm bảo tỷ lệ sống, nên vội vàng cắt thêm một đoạn thân cây mẹ.

Thật ra không có sự khác biệt nhiều về sự tăng trưởng giữa cây cắt ngay chỗ tiếp giáp và cây cắt với một đoạn thân cây mẹ. Do đó một việc làm như vậy là lãng phí, vì trên đoạn thân cây mẹ này có thể cho thêm vài cây con nữa trong tương lai.

Trên thực tế 1 cây lan dendro nói riêng và họ lan dendrobium nói chung nhiều khi có tới 15 cây con. Điều quan trọng là nên cất cây con vào thời điểm nào? Đối với các loài Dendrobium mạnh như Dendrobium Caesar Alba, Dendrobium Caesar Latil, Dendrobium Popadour có thể cắt cây con, khi giả hành cây con trưởng thành, mọi sự cắt quá non đều cho những kết quả không tốt. Đối với các loài yếu hơn như Dendrobium Jacqueline Thomas, Dendrobium Theodore Takiguchi… ta có thể đợi cây con mọc thêm một giả hành mới, thì việc nhân giống bảo đảm hơn.

Lựa chọn cây con: nếu để cây con, thì cây mẹ sẽ yếu sức và ngược lại việc lấy cây con quá non sẽ có tỷ lệ sống thấp. Tùy hoàn cảnh và ý định sẽ giúp bạn có một suy xét hữu hiệu nhất. Ngoài ra Dendrobium là giống giả hành có thân, vì thế hư các mắt ngủ của căn hành không gây sự chết tuyệt đối Ở cây như giống Cattleya và chính nhờ hiểu biết này, bạn có thể nhân giống các giống Dendrobium quí một giả hành duy nhất vẫn đảm bảo cây sống.

Nhân giống: Bạn có thể nhân giống bằng cách cắt từng đoạn thân mang khoảng 1 tới 2 mắt nhúng hai đầu đoạn cắt vào parafin hoặc bôi vôi, son môi, sau đó đặt các đoạn nằm ngang, trên mặt cát ẩm, che lại bởi một lồng kính, ba ngày phun một lần dung dịch urê, 1 muỗng càphê/4 lít nước, cộng thêm cả sinh tố B1, với một nồng độ 10 phần triệu trong thời gian 2 tuần liên tục. Sau đó chỉ phun mỗi dung dịch nửa muỗng cà-phê trong 4 lít + sinh tố B1 cho đến khi cây mọc các cây con. Phun hàng tuần trong các tuần kế tiếp.

Sau khi nhân giống bạn cần có cách chăm sóc hoa lan dendro hợp lý để chúng có lực phát triển nhanh giúp ra những bông hoa tuyệt đẹp.

Nhân giống lan bằng cách giâm cành lan

Nhân giống lan bằng cách giâm cành lan

Đây là kỹ thuật nuôi cấy mắt cây hay còn gọi là kỹ thuật giâm cành, mà ở VN gọi là cấy mô phân sinh.

Từ các chồi mắt (buds) "ngủ" bạn có thể sản xuất ra một hoặc nhiều cây (sinh sản vô tính).

Mắt cây (node) là gì?


Cây thường tạo ra các chồi "ngủ" để chắc chắn rằng cây có thể sống còn, nếu chồi ngọn chết đi hoặc bị sâu bọ ăn. Trong một thời dài, khi ngọn lớn lên và sản xuất chất điều hoà sinh trưởng (hormone – kích thích tố) để ngăn cản sự phát triển của các chồi khác trên thân cây. Nếu ngọn chết đi, chất điều hoà sinh trưởng bị thiếu hụt và các chồi "ngủ" bắt đầu phát triển.

Bạn có thể tìm chồi ngủ ở đâu?


Mắt cây có thể tìm thấy như:

Trên thân Phalaenopsis, Doritis và Phaius
Trên thân hành của Dendrobium
Dưới gốc của Cattleya...

Sửa soạn mắt cây


Chúng ta hãy thử làm theo kỹ thuật sau với Phaius tankervilleae và sẽ có kết quả rất tốt. Trong một lớp học, những người tham gia đã nhân giống thành công Phalaenopsis trên bổi rêu (peat, sphagnum moss). Bạn hãy xem hình cây Phalaenopsis ở phần dưới đây:

Một trong những người tham gia lớp học của chúng tôi nhân giống thành công Phalaenopsis trên những bổi rêu.

Cách làm:

Nhúng ướt bổi rêu dưới vòi nước.
Trải rộng trên một cái khay nhựa, đổ lấp đầy khoảng trống giữa những bổi rêu với cát sa thạch (silica) và đổ một ít nước + nước dừa vào trong khay nhựa.
Đặt khay nhựa vào trong lò vi sóng khoảng chừng 3 phút(dể diệt trùng và nấm gây bệnh).
Bỏ một ít rêu (moss) vào trong cát khi đã nguội.
Cắt cành hoa khoảng 3 cm trên và dưới mắt cây.
Lột bỏ các màng bao (bracts).
Đặt các đoạn mắt cây và trong bổi rêu .
Đậy khay nhựa với lớp plastic và đặt khay dưới ánh đèn trồng cây.

Mắt cây phù hợp là bạn cắt 3 cm ở phía trên và dưới mắt của cành hoa. Điều rất quan trọng là phải dùng dao bén, bởi vì dao cùn làm các mô bị tổn thương rất nhiều. Kế đó bạn hãy cẩn thận gỡ bỏ các màng bao.
 
Giâm cành trên đất

Đặt mắt cây vào trong đất trồng: Đặt mắt cây đã sửa soạn nằm ngang trong đất trồng, mắt cây phải ở phía trên.
 
Chăm sóc: Đặt cái khay với những mắt cây vào nơi sáng và ấm và tránh ánh sáng mặt trời trực tiếp chiếu vào. Kiểm soát mỗi 3-4 ngày để có độ ẩm đầy đủ.

Nuôi cấy mắt cây trong môi trường nuôi trồng (in vitro)

Nuôi cấy mắt cây trong môi trường nuôi trồng (in vitro)

Với kỹ thuật này cho cây lan mới sau này hoa sẽ trông giống cha mẹ chúng.

Chuẩn bị mắt cây



Mắt cây phù hợp là bạn cắt chéo với 1 cm ở trên và dưới mắt của nhánh (cây) hoa. Điều rất quan trọng là dùng dao bén bởi vì dao cùn làm các mô bị tổn thương rất nhiều.
Ưu điểm của kỹ thuật này là cây mới sinh sản sau này hoa sẽ trông giống cha mẹ chúng. Chúng ta dùng kỹ thuật này để nhân giống: Phalaenopsis, Doritis pulcherima, Phaius tankervilleae và Chiloschista lunifera.

 
Chất dung môi nào bạn xử dụng?
Để khởi đầu phát triển của "mắt ngủ" chúng ta hãy dùng chất dung môi gồm có cytocinins (chất kích thích sinh trưởng - phytohormon). Chúng ta dùng Sigma's P6793 (Phytotechlab P793) (Web site http://www.sigma-aldrich.com/).

Chuẩn bị dụng cụ:

Thiết bị cần thiết:
   
Bếp lò
Nồi nấu nước đường kính miệng 30cm
Đèn cồn (dùng sát trùng dụng cụ)
Bao tay cao su
Nhíp, kẹp (inox)
Dao mổ (inox)
Cái móc lấy hạt lan (dụng cụ cấy chuyền)

Đồ dùng cần thiết:

Ống nghiệm chứa môi trường cấy
Bình cấy (lọ, ống nghiệm...)
Giấy lau nhà bếp (kitchen paper)
Cồn 70%
Thuốc tẩy (như là Clorox) dùng tẩy trùng.
Lọ (hũ) có nắp vặn (như là hũ thức ăn trẻ em - babyfood jar)

Bỏ mắt cây vào lọ (flask):
Ngâm mắt cây đã cắt vào cồn 70% vài giây. Sau đó đặt các mắt cây vào trong nước Oxi già 0,5% (hydrogen peroxide H2O2) trong 30 phút. Kế đó đặt chúng vào trong nước Oxi già (H2O2) 3% trong 15 phút. Sau 15 phút, đặt các mắt cây đã khử trùng (trong ống nghiệm) nằm trên vỉ trong vùng hơi nước sôi (vùng khử trùng). Bây giờ, lấy ống nghiệm và mở ra trên hơi nước sôi. Nắp đậy phải đặt trong miếng giấy nhà bếp (kitchen paper) tẩm cồn. Lấy cái nhíp và khử trùng bằng đèn cồn. Đưa cái nhíp vào vùng khử trùng (vùng hơi nước) và lấy một cái mắt cây đã đức ngâm trong dung dịch Oxi già và đặt nó với phần đuôi vào đắy lọ trong dung môi nuôi.

Kế tiếp, nhúng cái nhíp vào trong nước sôi để rửa sạch các chất dung môi bám vào nhíp và ngâm nhíp vào trong lọ cồn 70%. Đậy ống nghiệm lại (trên hơi nước sôi) và đặt nó trên bàn để dán nhãn. Với ống nghiệm kế tiếp bạn cũng làm giống như vậy.

Gợi ý: Để tạo dung dịch khử trùng có hiệu quả hơn, hãy nhỏ vài giọt nước rửa chén (dish washing solution) vào trong nước Oxi già.

Chăm sóc:


Đặt các ống nghiệm bạn đã làm các mắt cây vào nơi ấm và sáng (khoảng 20°C). Tránh ánh sáng mặt trời trực tiếp bởi vì ánh sáng mặt trời sẽ làm ống nghiệm trở nên nóng bên trong.
 
Bởi vì kích thước và cấu trúc của các mắt cây làm tỷ lệ nhiễm bệnh cao hơn dùng cách nẩy mầm không cộng sinh (asymbiotic seed germination). Như vậy, điều rất quan trọng là chúng ta phải kiểm soát mỗi ngày trong tuần đầu tiên ,nếu có triệu chứng nhiễm trùng. Nếu bạn tìm thấy nấm hay vi khuẩn, bạn có thể khử trùng n thêm một lần nữa.

Có nhiều mắt cây tiết ra các hợp chất (exudate phenolic compounds) vào trong dung môi nuôi cấy làm đen dung môi nuôi cấy. Các hợp chất tiết ra sẽ giết chết các mắt cây nếu bạn không thay dung môi nuôi mới. Nhiều mắt cây sẽ ngừng tiết ra các hợp chất sau 3 hay 4 lần thay.

Bởi vì kích thước và cấu trúc của các mắt cây làm tỷ lệ nhiễm bệnh cao hơn dùng cách nẩy mầm không cộng sinh (asymbiotic seed germination). Như vậy, điều rất quan trọng là chúng ta phải kiểm soát mỗi ngày trong tuần đầu tiên ,nếu có triệu chứng nhiễm trùng. Nếu bạn tìm thấy nấm hay vi khuẩn, bạn có thể khử trùng n thêm một lần nữa.

Có nhiều mắt cây tiết ra các hợp chất (exudate phenolic compounds) vào trong dung môi nuôi cấy làm đen dung môi nuôi cấy. Các hợp chất tiết ra sẽ giết chết các mắt cây nếu bạn không thay dung môi nuôi mới. Nhiều mắt cây sẽ ngừng tiết ra các hợp chất sau 3 hay 4 lần thay.
 
Chất điều hoà sinh trưởng (hormones)

Chất điều hoà sinh trưởng là các hợp chất hữu cơ hay nhân tạo mà tác động sự phát triển và nhân giống. Chúng sản sinh trong cây (như phát triển nụ) để kiểm soát sự phát triển.

Auxins: Auxins tác dụng tăng dài các tế bào, phát triển rễ và chồi tự hình thành. Chúng ngăn chận sự phát triển chồi nhánh (điều này chồi bảo đảm tính di truyền ổn định). Auxins thông thường dùng trong môi trường nuôi cấy mô, hoặc là phối hợp với cytokinins lúc tăng dài của thân hoặc không có cytokinins cho bộ rễ.

Cytokinins: trước đây gọi là kinins, đóng vai trò chính trong môi trường nuôi cấy mô để phân cắt tế bào, shoot multiplication và sự tăng trưởng của chồi nhánh. Chúng giúp làm chậm sự lão hóa, và chúng tác động chuyển hoá auxin. Nếu việc nuôi cây quá ốm yếu, tăng lượng Cytokynin sẽ giúp việc nuôi trồng ngắn hơn, thân mần khoẻ chắc.

Gibberellins: là một nhóm của chất liệu thiên nhiên xuất hiện với tác dụng phát triển tế bào và kích thích sự tăng dài của thân. Năm 1926 E. Kurasawa (người Nhật) ghi lại rằng việc nhiễm một loài nấm mốc (tên Gibberella fugikuroi), kết quả là hạt lúa phát triển nhanh hơn bình thường. Chất liệu đó là gibberellic acid, mà sau đó được người ta đã phân lập và kết tinh từ cả nấm mốc và thực vật.
Nguyễn Nam Sách
Phỏng dịch từ bài: 'Node culture'

Thứ Tư, 19 tháng 7, 2017

Bón phân qua lá phần 2

Bón phân qua lá phần 2

Trong các điều kiện khi sự hấp thụ dinh dưỡng qua bộ rễ và chuyển dịch chúng bên trong cây không thể thực hiện hoặc bị hạn chế, phương pháp bón phân qua lá có thể là một giải pháp

1. LÝ DO ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP BPQL:

Trong phần này, những sự kiện chính dẫn đến tình trạng hạn chế hấp thu dinh dưỡng từ bộ rễ và chuyển vận chúng bên trong cây được đề cập, và những giải pháp để ngăn ngừa và khắc phục tình trạng thiếu dinh dưỡng cũng sẽ được trình bày. Đó là cách trả lời cho những câu hỏi “Tại sao”, “Khi nào” thì áp dụng BPQL.

-   Những yếu tố giới hạn khả năng hấp thu ở bộ rễ và chuyển vận bên trong cây:

Hiện tượng thiếu dinh dưỡng xảy ra khi khả năng hấp thu của bộ rễ bị giới hạn hoặc bị  ngăn cản trong một thời gian, do đó không đủ để cung cấp theo nhu cầu của cây. Những sự kiện liên quan tới vùng rễ có thể kể như sau:

a. Rễ bị tổn thương: Do bị bệnh (tuyến trùng chẳng hạn) hoặc tổn thương cơ học (do xới xáo khi chăm bón làm đứt rễ).
b. Những điều kiện của đất không hữu hảo cho bộ rễ hấp thu dinh dưỡng.

Chất dinh dưỡng bị bất động hoá do các vi sinh vật.
Bị cố định do môi trường đất và các chất hữu cơ.
Sự nhiễm mặn (độ EC quá cao sẽ giới hạn khả năng hấp thụ nước của rễ cây).
Sự bất động liên hệ tới độ pH (sự oxy hoá gây ra cho các kim loại ở độ pH cao hoặc  sự bất động của Mo ở pH thấp).
Sự bất cân đối dinh dưỡng trong đất (sự đối kháng giữa các  ion như K và Ca).
Thiếu oxy (đất quá ướt).
Sự hoạt động của rễ thấp (nhiệt độ thấp quanh vùng rễ trong thời kỳ ra hoa và đậu trái).
Thiếu nước để các chất dinh dưỡng ngấm vào (quá khô).

c. Nhu cầu dinh dưỡng ỡ đỉnh cao: Trong suốt thời kỳ phát triển trái nhanh,  nhu cầu  dinh dưỡng vượt quá khả năng cung cấp mặc dù đất trồng rất màu mỡ. (Brown, 1999).
d. Bón phân qua lá cũng có thể được chỉ định khi nhu cầu tập trung dinh dưỡng vào các  vị trí chuyên biệt bên trong cây vượt quá khả năng phối trí dinh dưỡng bên trong cây.

Điều này thường xảy ra nhất trong những vùng trọng điểm của các loại trái cây lớn hoặc các chùm đậu và liên quan tới cả hai sự kiện là nhu cầu tập trung cao độ vào một vùng chuyên biệt nhiều nguyên tố trong trái cây như N và K và hệ qủa của khả năng cơ động thấp của các mô libe đối với một số nguyên tố nào đó, như Ca và B chẳng hạn.
Khả năng cơ động các nguyên tố bên trong cây cũng có thể bị hạn chế nếu hoa phát triển trước lá và do đó dẫn đến tình trạng hạn chế sự chuyển dịch dinh dưỡng trong các mô mao dẫn.
Trong các thời kỳ hạn hán hoặc ẩm độ không khí cao cũng có thể hạn chế sự chuyển vận trong các mạch mao dẫn và ngăn cản sự phân phối các dưỡng chất bất động bởi các mô libe.
Trong các điều kiện này khi sự hấp thụ dinh dưỡng qua bộ rễ và chuyển dịch chúng bên trong cây không thể thực hiện hoặc bị hạn chế, phương pháp bón phân qua lá có thể là một giải pháp.

-  Áp dụng phương pháp BPQL:

Những lý do chính cho việc áp dụng BPQL gồm có:

a. Hiệu chỉnh hiện tượng thiếu dinh dưỡng: BPQL có thể nhanh chóng hiệu chỉnh hiện tượng thiếu dinh dưỡng vì phân bón được phun ngay vào chỗ đang thiếu. Thí dụ hiện tượng thiếu sắt có thể xảy ra khi cây trồng trên nền đất sét (độ pH cao). Phun hợp chất Fe-chelate (Fe-EDTA) có thể giải quyết vấn đề.
b. Ngăn ngừa hiện tượng thiếu dinh dưỡng: Khi phân bón xuống đất không phát huy được hiệu quả đối với một vài nguyên tố nào đó, thí dụ Mn trong vùng đất có độ pH cao, áp dụng PBQL (với Mn) có thể ngăn ngừa được hiện tượng thiếu Mn.
c. Thay thế hoặc bổ sung cho phương pháp bón phân qua rễ: Việc bón phân qua lá có thể phần nào thay thế phân bón qua rễ nhưng không bao giờ có thể thay thế  hoàn toàn được. BPQL giúp duy trì sự phát triển và mạnh khỏe của cây trồng và làm gia tăng chất lượng của nông sản vì có thể  áp dụng đúng lúc và đúng nơi, hoàn toàn độc lập với các điều kiện về đất đai và nhất là khả năng tác động nhanh của nó.

Sự gia tăng năng suất ngoài mong đợi sau khi áp dụng BPQL là do sự liên hợp dẫn đến hậu qủa gia tăng sự hấp thu dinh dưỡng từ bộ rễ. Sự gia tăng này là do việc BPQL đã tạo nên sự cân bằng các chất dinh dưỡng bị thiếu mà đó lại là yếu tố giới hạn sự quang hợp và sự sản xuất sinh học (Baier và Baierova, 1999). Những nhà nghiên cứu này đã thử phun qua lá một lượng 2.69kg N/ha và 0.96kg Mg/ha trên cây bắp và thấy rằng khả năng hấp thu gia tăng theo thứ tự là 55 kg N/ha và 6Kg Mg/ha so với đối chứng.

d. Gia tăng khả năng chống chịu sự phá hoại của sâu bọ và bệnh: Điều này dễ hiểu vì một cây trồng khỏe mạnh thì  ít mẫn cảm với các loài sâu bọ và các loại bịnh hơn.

Một công thức phân bón kết hợp giữa P và K (PK 50-30 và chất phụ gia) đã được khám phá là có các tác dụng làm cho cây cứng cáp và khỏe mạnh hơn, giúp cho cây trồng tạo được khả năng chống lại sự phá hoại của loài nấm mốc sương trên cây bông hồng, cây cà tím và cà chua.

e. Gia tăng khả năng chống lại tuyết lạnh: BPQL có thể làm gia tăng sự tập trung các muối khoáng vào bên trong tế bào, làm hạ điểm đông của tế bào chất.

2. THỜI ĐIỂM ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP BPQL:


Để BPQL phù hợp, nên căn cứ trên những triệu chứng hiển nhiên có thể nhìn thấy  theo kinh nghiệm (như thiếu dinh dưỡng) hoặc chẩn đoán dinh dưỡng qua lá.

Các nông gia trồng cây ăn trái ở Bỉ thường lấy lá để phân tích dinh dưỡng hai lần mỗi năm:

. Khi kết thúc đợt nở hoa, lấy lá vào tháng 5 để phân tích N, P, K, Ca, Mg.
. Cuối mùa của những mầm đầu năm khi lá đã phát triển trưởng thành, lấy lá để phân tích N, P, K Ca, Mg, Fe, Mn, Zn, Cu.

Hoàn thành kết quả của cả hai lần phân tích và đưa ra quy trình phân bón cho từng trường hợp cá thể vào cuối tháng 10.

3. NHỮNG TÍNH CHẤT CỦA MỘT SẢN PHẨM PBQL TỐT:


Một sản phẩm PBQL tốt phải có các đặc tính sau:

- Tan hoàn toàn trong nước.
- Độ tinh khiết cao, không chứa các hợp chất độc.
- Hàm lượng ammonia và sulphate thấp.
- Không chứa Clor.
- Khả năng kết tinh dạng kim cương trong ure thấp dưới 0.35%.
- Các kim loại dưới dạng chelate.
- Hàm lượng các gốc muối thấp.
- Có thể dùng chung với thuốc BVTV.
- Nhãn mác phải ghi rõ ràng hàm lượng các chất kết thành.
- Hướng dẫn sử dụng rõ ràng ghi trên nhãn hoặc có chương trình hỗ trợ kỹ thuật cho người sử dụng bởi nhà sản xuất hoặc đơn vị phân phối về các vấn đề sau:

a. Liều lượng sử dụng (Kg hoặc lít/ha)
b. Số lần sử dụng.
c. Thời kỳ sử dụng trong chu kỳ sinh trưởng của cây trồng.
d. Những hạn chế khi sử dụng (nhiệt độ cao, không dùng ban ngày, cách pha chế...)
e. Địa chỉ liên lạc nếu muốn biết thêm thông tin.

4. LOẠI PHÂN BÓN QUA LÁ VÀ MỨC ĐỘ SỬ DỤNG:

Nói chung những đề xuất về dinh dưỡng trong việc BPQL thường theo các thời kỳ trong quá trình sinh trưởng của cây trồng.

Ni tơ:

- Áp dụng trong giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng để gia tăng hàm lượng N trong lá cây và các  phần khác  của  cây.
- Ure hoạt động như một chất kích hoạt. Lớp cutin bao phủ bề mặt lá sẽ phồng lên sau khi ure được phun vào, điều này làm cho các loại PBQL khác xâm nhập dễ dàng.
-  Nitrate hoạt động như  chất khơi mào cho sự hình thành hoa (cây xoài)

Photpho:

-  Hoạt động như dưỡng chất khởi đầu cho cây từ giai đoạn mới ươm, kích thích sự phát triển bộ rễ khi chuyển ra trồng.
-  Sử dụng trước khi ra hoa cho cây đâm chồi và ra hoa mạnh mẽ.
-  Trong giai đoạn hình thành trái sẽ giúp cho trái cứng rắn và kéo dài thời gian trưng bày sau thu hoạch.
-  Áp dụng sau thu hoạch đối với các mô hoạt động để bồi hoàn dinh dưỡng cho cây.

Kali:

-  Áp dụng trong giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng để gia tăng sự cứng cáp của cây.
- Trong suốt giai đoạn ra hoa và hình thành trái sẽ làm gia tăng những thông số liên quan tới chất lượng trái (ví dụ: vị, hàm lượng K, nước cốt, hàm lượng vitamin C, hàm lượng các chất rắn hoà tan, , nhiều acid hơn, nhiều đường hơn, ít mẫn cảm hơn đối với các loại bịnh, vỏ trái tốt hơn, màu sắc đẹp hơn, khả năng chống hàn cao hơn, đồng nhất hơn) và số lượng (số lượng nhiều hơn, kích cỡ và trọng lượng trái, củ, hạt lớn hơn, nặng hơn, giảm hiện tượng rụng trái). Quá trình chín của trái bắt đầu sớm hơn và kéo dài được thời gian bày bán ngoài thị trường.
- Áp dụng sau khi thu hoạch vào các mô năng động để bồi hoàn dinh dưỡng cho cây.

Mặc dù có những ngoại lệ không thể bỏ qua, nhưng mức độ áp dụng dưới đây được coi như quy định  chung:
 
 Độ đậm đặc  0.5 – 2% ( 0.5 – 2kg/100 lít nước)
 Khối lượng  Từ 300 – 600 lít/ha cho rau, các vụ mùa trồng trên đồng và bông hoa
Từ 600 - 800 lít/ha cho nho.
Từ 1500 – 3000 lít/ha cho cây ăn trái.
 Số lần sử dụng  Từ 2 –  5 lần.
 Khoảng cách  Từ 7 – 14 ngày (có thể đến mỗi tháng một lần)

5. NHỮNG PHÁT TRIỂN CỦA PHƯƠNG PHÁP BPQL

Để gia tăng hiệu quả của phương pháp Bón phân qua lá và hiệu lực của phân bón qua lá, những thành phần phụ trợ được thêm vào phân bón. Những chất  này có thể là:

-   Chất phụ ích (làm ướt, kết dính, phân bố đều, chất phụ thấm ...)
-   Chất kích thích và điều hoà tăng trưởng.
-   Acid Humic.
-   Các amino acid.
-   Chất kích thích sinh học.
-   Chất chiết xuất từ rong biển, tảo.
-   Chất thay thế các hợp chất chelate (phức hợp hoặc hữu cơ)
-   Dạng thức vật lý (tinh thể, huyền phù...)

6. KẾT LUẬN.

Bón Phân Qua Lá, kể cả đối với dinh dưỡng đa lượng và vi lượng, là cần thiết để lạc quan hoá về năng suất, chất lượng dẫn đến gia tăng lợi tức cho nhà nông. Đối với nhiều vụ mùa ở khắp nơi trên thế giới, BPQL đã minh chứng tính hiệu quả tính hiệu  lực của nó, do đó nông dân nên được khuyến khích áp dụng phương pháp này kể cả trên các loại cây trồng chưa được khảo nghiệm tới. Tài liệu này nhằm cung cấp những quy luật chung để áp dụng cho đúng phương pháp BPQL đối với các loại cây trồng như vậy./.
NGUỒN: http://www.humixvn.com
Tác giả: Harmen Tjalling HOLWERDA.
Người dịch: Nguyễn Văn Linh
GĐ Công ty TNHH Hữu Cơ

Bón phân qua lá phần 1

Bón phân qua lá phần 1

Người trồng cây nói chung và trồng lan nói riêng ai cũng mong muốn cây mình trồng được phát triển tốt nhất, khỏe mạnh. Sự hỗ trợ từ phân bón đối với cây trồng là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, rất nhiều người chưa hiểu hết về phân bón, dẫn đến lạm dụng phân bón gây chết cây.

1.GIỚI THIỆU:
Bón phân qua lá (BPQL) có một vai trò ngày càng gia tăng trong dinh dưỡng cây trồng và đã được nông dân áp dụng từ nhiều năm nay khắp nơi trên thế giới, mặc dù thông tin về lãnh vực này trên các tài liệu khoa học còn hạn chế. Chỉ tới thời gian gần đây, các nhà khoa học mới chú tâm tới và điều này đã được chứng kiến bởi hàng trăm chuyên gia tham dự một hội nghị quốc tế chuyên đề về BPQL.

Tài liệu này nhằm minh chứng sự quan trọng về vai trò của BPQL đối với các chất dinh dưỡng đa lượng trong quá trình hấp thu dinh dưỡng của cây trồng. BPQL đã bị nhìn bằng cặp mắt hoài nghi và xem như một món đồ trang điểm hơn là lợi ích thiết thực trong sự tăng trưởng và phát triển của cây trồng để từ đó nâng cao lợi tức cho nhà nông. Đặc biệt đối với các chất dinh dưỡng đa lượng vì cây trồng cần một lượng lớn trong khi lá cây chỉ có thể đón nhận một lượng tương đối nhỏ so với nhu cầu. Do đó việc áp dụng BPQL để cung cấp các chất dinh dưỡng đa lượng trên thực tế không thông dụng lắm.
Các vấn đề thực tiễn đang tồn tại như  tại sao, khi nào và áp dụng cách BPQL ra sao sẽ được trình bày trong tài liệu này.
Bón Phân Qua Lá là một phương pháp rẻ, dễ áp dụng và hiệu quả để gia tăng năng suất và chất lượng nông sản dẫn đến gia tăng lợi nhuận cho nhà nông nếu được áp dụng đúng cách.
Sự hiểu biết đầy đủ về BPQL sẽ tránh được các lầm lẫn và sẽ làm cho nông dân thỏa mãn hơn.

Những vấn đề sau đây sẽ được giải thích theo từng phần:

. Bón phân qua lá là gì?
. Cơ chế của sự hấp thu và vận chuyển dinh dưỡng.
. Tại sao xử dụng phương pháp BPQL
. Khi nào thì xử dụng phương pháp BPQL.
. Những đặc điểm của một sản phẩm PBQL tốt.
. Phương pháp BPQL và mức độ áp dụng.
. Những phát triển trong công nghệ PBQL.
. Kết luận.

2. BÓN PHÂN QUA LÁ LÀ GÌ?

Bón phân qua lá là biện pháp phun một hay nhiều chất dinh dưỡng cho cây trồng lên các phần ở phía trên mặt đất của cây (lá, cuống, hoa, trái) với mục đích nâng cao sự hấp thu dinh dưỡng qua các phần trên không của cây trồng.

3. CƠ CHẾ CỦA SỰ HẤP THU VÀ VẬN CHUYỂN CHẤT DINH DƯỠNG QUA BỘ LÁ:

Để hiểu được chức năng của phương pháp BPQL, cần giải thích rõ ràng các quy trình sinh học khác nhau của cơ chế hấp thu qua lá và phân phối dinh dưỡng bên trong cây trồng. Để làm các nhiệm vụ bên trong lá hoặc vận chuyển các chất dinh dưỡng khoáng ra khỏi lá đến các bộ phận khác của cây trồng, một quy trình hấp thu thông qua màng tế bào (plasma membrane), từ  các không bào bên trong lá (apoplast) vào bên trong tế bào (symplast) sẽ xảy ra. Theo Romheld và El-Fouly, (1999) sự hấp thu dinh dưỡng qua lá có 5 bước như sau:

3.1 Làm ướt bề mặt lá bằng dung dịch phân bón:

Vách ngoài của những tế bào lá được bao phủ bởi lớp cutin và một lớp sáp có đặc tính chống thấm nước rất mạnh. Để việc hấp thu các chất dinh dưỡng dễ dàng, ta có thể bỏ thêm các chất phụ gia (vào PBQL) để làm giảm sức căng bề mặt.

3.2 Sự thâm nhập xuyên qua lớp biểu bì của vách tế bào:


Khi phun phân bón qua lá lên bề mặt của lá cây, sự hấp thu có thể xảy ra theo ba cách sau đây:

a. Qua các lỗ nhỏ li ti trên bề mặt lớp ngoại bì và vách tế bào.
b. Qua các thủy khổng ở giữa các vách tiếp giáp các tế bào.
c. Qua khí khổng giữa các tế bào bảo vệ.

Theo Eichert et al, (1998), sự xâm nhập của chất lỏng xuyên qua bề mặt có sức căng cao và các khí khổng có thể xảy ra dưới một số các điều kiện. Một trong những điều kiện này là tạo các giọt nhỏ liên kết với sự bốc hơi. Khi sự bốc hơi xảy ra, mức độ xâm nhập đạt cao nhất và sự hấp thu liên tục xảy ra với phần chất rắn còn lại.
Những tác giả này cho rằng (lý thuyết về) những giới hạn vật lý chống lại sự xâm nhập qua khí khổng thì đúng đối với các hạt giọt lớn nhưng có thể không đúng đối với các phần rắn còn lại vì chúng liên kết thành một lớp mỏng trong quá trình bốc hơi nước. Những màng mỏng này thâm nhập vào khí khổng và khích lệ sự trao đổi giữa bên trong và bên ngoài lá cây (Eichert and Kurkhardt, 1999).

3.3 Sự xâm nhập chất dinh dưỡng vào các không bào bên trong lá cây:


Các không bào (apoplast) rất quan trọng để chứa các chất dinh dưỡng trước khi chúng được hấp thu vào bên trong từng tế bào. Các chất dinh dưỡng sẽ vào những không bào này sau khi xâm nhập từ bên ngoài qua lớp biểu bì lá cũng như được hấp thu từ rễ  qua các mao mạch trong thân cây.

3.3 Sự hấp thu chất dinh dưỡng vào bên trong tế bào:


Những nguyên tắc chung về việc hấp thu chất dinh dưỡng khoáng từ các không bào vào bên trong từng tế bào lá cũng giống như  sự hấp thu từ rễ. Theo đó, tốc độ hấp thu như sau:

a. Những phân tử nhỏ nhanh hơn những phân tử lớn (urea > Fe-Chelates).
b. Những phân tử không mang điện (nối cộng) nhanh hơn các ion tĩnh điện.
c. Những ion hoá trị một  nhanh hơn các ions đa hoá trị (H2PO4- > HPO42-)
d. Độ pH của không bào (apoplast) thấp sẽ hấp thu các anions nhanh hơn.
e. Độ pH của không bào (apoplast) cao sẽ hấp thu các cations nhanh hơn.

Khả năng hấp thu của các tế bào lá cây cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại vi như độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng.
Cơ chế tùy thuộc năng lượng để hấp thu dinh dưỡng xuyên qua màng vào bên trong tế bào  được môi giới bởi các protein vận chuyển khác nhau như  những chất chuyên chức năng chuyển tải hoặc các luồng tĩnh điện với ion H+  ATPasses. Những sự kiện này làm gia tăng lực hấp thu bằng cách tạo nên độ chênh hóa tĩnh điện  ở bề mặt màng tế bào.
Sự hấp thu qua các tế bào lá có thể được điều khiển qua tình trạng dinh dưỡng của cây, nhưng đây không phải là quy luật chung mặc dù hiện tượng này đã được khám phá đối với sự hấp thu lân. Việc hấp thu lân qua lá và vận chuyển xuống rễ xảy ra nhanh hơn đối với cây đang thiếu lân.

Bảng 1: Sự hấp thu qua lá và vận hành của lân được theo dõi bằng lân phóng xạ(32P).

 
 
 Sự hấp thu và vận hành của lân
   Đối chứng
(không thiếu lân)
 Theo dõi
(thiếu lân)
 Hấp thu bởi lá đã xử lý  5.3  9.9
 Vận hành ra khỏi lá (đã xử lý)  2.0  6.0
 Vận chuyển xuống rễ  0.6  4.4
Theo Clarkson và Scattergood, 1982

Khi áp dụng những chất dinh dưỡng lưu động (mobile nutrients) cho các lá non, lá còn đang phát triển thì sự chuyển dịch xuống rễ chậm hơn, điều này kích thích sự hấp thu dinh dưỡng từ rễ do bộ lá phát triển và quang hợp tốt hơn. Đối với các lá già, lá đã ngưng phát triển thì sự chuyển dịch này xảy ra nhanh hơn và có thể ngăn chận tình trạng thiếu dinh dưỡng gây ra do sự hấp thu không đủ của bộ rễ.
Các chất dinh dưỡng bất động (immobile nutrients) áp dụng trên cả lá già và lá non sẽ chuyển dịch chậm xuống rễ, như vậy không gây nên sự thay đổi nào hoặc có thể làm gia tăng lượng dinh dưỡng hấp thu từ  rễ.

3.4 Sự phân bố chất dinh dưỡng trong lá và chuyển dịch chúng ra ngoài:

Sự phân bổ từng chất dinh dưỡng riêng biệt bên trong và chuyển dịch chúng ra ngoài lá sau khi phun phân bón thì tùy thuộc vào từng mô libe và tính cơ động của hệ mao dẫn.
Các chất dinh dưỡng lưu động libe (phloem mobile nutrients) như  N, P, K, Mg được phân bố vào mỗi mô mao dẫn cũng như mỗi mô libe bên trong lá cây, và một tỷ lệ lớn các chất dinh dưỡng đã hấp thu sẽ được vận chuyển ra khỏi lá tới các bộ phận khác của cây nơi có nhu cầu cao.
Ngược lại các chất dinh dưỡng có khả năng cơ động libe giới hạn (nutrients with a restricted phloem mobility) như  Ca, Cu, Fe, Mn, Zn sẽ được phân bố chính cho mỗi mô mao dẫn bên trong lá cây và không có sự chuyển dịch đáng kể nào ra ngoài.
Riêng đối với Boron, sự lưu chuyển bên trong cây tùy thuộc rất nhiều vào các di truyền gen và là yếu tố quyết định đến hiệu quả của phân bón Boron qua lá.

3.5  Hiệu qủa của phương pháp BPQL:

Theo Brown, 1999, sự hiệu qủa của phương pháp BPQL ảnh hưởng bởi:
a. Lý và hoá tính của phân bón sử dụng.
Sự hấp thu chất dinh dưỡng tùy thuộc vào các anion nối kết. Thí dụ sự hấp thu Zn(NO3)2 cao hơn so với ZnSO4 có thể được giải thích bởi sự kết nối cation-anion (cation-anion symport).
Năm 1999, Burkhardt et al đã thực nghiệm bằng cách nhúng các lá Vicia faba vào dung dịch 1% Zn-nitrate và dung dịch 1% Zn-sulphate thì thấy rằng khi Zn được liên kết với gốc nitrat thì khả năng hấp thu lớn gấp 3.5 lần so với gốc sulphate.
Bảng 2 dưới đây có thể được tham khảo như  bảng mẫu tổng quát về tốc độ hấp thu bởi lá cây đối với các chất dinh dưỡng.
Chất dinh dưỡng
 Chất dinh dưỡng Thời gian để lá cây hấp thu 50%
 N  1 – 6 giờ
 P  1 – 5 ngày
 K  10 – 24 giờ
 Ca  1 – 2 ngày
 Mg  2 – 5 giờ
 Fe  1 ngày (8%)
 Mn  1 – 2 ngày
 Zn  1 – 2 ngày

b. Khả năng xâm nhập của chất dinh dưỡng vào bên trong tế bào chất ảnh hưởng bởi chủng giống, loại và tuổi của lá cây, hoá tính của phân bón, vào các điều kiện môi trường như  ẩm độ, nhiệt độ, ngày hay đêm, và phương pháp áp dụng.
NGUỒN: http://www.humixvn.com
Tác giả: Harmen Tjalling HOLWERDA.
Người dịch: Nguyễn Văn Linh
GĐ Công ty TNHH Hữu Cơ

Phương pháp sử dụng phân bón qua lá

Phương pháp sử dụng phân bón qua lá

Phân bón lá bổ sung thêm thức ăn đặc biệt là vi lượng để kích thích cho cây trồng ra lá, ra hoa nhanh hơn. Phân bón lót có tác dụng với rau, cây ăn quả, hoa hơn so với ở trên cây lan, loài sống phụ sinh

Cây hoàn toàn không thể phát triển bình thường nếu không có các nguyên tố vi lượng như Bo(B), man gan(Mn), kẽm (Zn), đồng (Cu), Molipđen(Mo), một số cây cần cả nhôm (Al), silic (Si). Người ta đã chứng minh những nguyên tố này là tuyệt đối cần thiết cho cây. Các nguyên tố đó được xem như là các chất kích thích và các loại phân bón chứa chúng được gọi là các loại phân xúc tác hoặc phân kích thích, chúng đã thúc đẩy sự phát triển của thực vật. Sự thiếu từng nguyên tố vi lượng và đa lượng riêng biệt trong đất gây ra các chứng bệnh cho thực vật, động vật và người.
Phương thức sử dụng phân bón lá

- Sử dụng phân bón lá phải ở những nồng độ thích hợp (theo hướng dẫn trên bao bì). Nồng độ bón phân qua lá không được cao. Nếu cao cây sẽ bị bội thực (gây độc) và chết, nếu bón nồng độ thấp thì hiệu lực không rõ.
- Nên phun lên bề mặt lá có nhiều khí khổng nhất. Cây hấp thụ phân bón lá qua khí khổng: lỗ khí khổng phân bố cả mặt trên và mặt dưới lá. ·

Ở lúa: mặt trên lá mật độ khí khổng cao hơn mặt dưới lá;·
Ở ngô, cà chua, khoai tây mặt trên lá mật độ khí khổng thấp hơn mặt dưới lá;·
Những cây thân gỗ số lượng lỗ khí khổng lớn, từ 300-400, đa số chúng đều được bố trí ở mặt dưới lá.
Điều kiện ngoại cảnh ảnh hưởng đến sự đóng mở khí khổng·

Trời râm khí khổng mở, nắng gắt khí khổng đóng;·
Đất quá khô lỗ khí khổng đóng lại;· Gió làm khí khổng đóng lại;
· Nhiệt độ: 10oC-30oC khí khổng mở, Nhiệt độ lớn hơn 30oC lỗ khí khổng đóng lại.

Thời điểm phun phân bón lá·

Phun phân bón lá vào lúc khí khổng đang mở; ·

Phun khi nhiệt độ dưới 30oC, trời không nắng, không mưa, không có gió khô; phân bón lá chỉ phát huy tác dụng khi cung cấp đủ nước, phân qua rễ;·

Thời gian phun: 9-10h sáng và 2-3h chiều về mùa đông.

7-8h sáng hoặc 5-6h chiều về mùa hè. ·

Phân bón lá định hướng cho từng loại như các loại cây lấy hoa, lấy củ, lấy hạt...phun theo hướng dẫn ghi trên bao bì;·

Những chế phẩm tăng năng suất cây trồng hoàn toàn không độc với người và cây trồng vì những chất đưa vào cây là những chất đã có sẳn trong cây trồng ở nồng độ thấp, chưa đáp ứng cho cây phát triển tốt được; không nên dùng quá liều chỉ định gây độc (bội thực) cho cây, ảnh hưởng tới sinh trưởng, phát triển.

Cần chú ý:· Không phun khi trời mưa, nắng to do bay hơi, tỷ lệ lỗ khí khổng đóng cao. Không phun sau mưa do cây đã no nước.· Nếu bơm máy tránh ga mạnh gây ảnh hưởng cơ học lên cây.· Có thể pha chế phẩm với thuốc trừ sâu bệnh để tiết kiệm công phun khi phát hiện cây có sâu bệnh (chỉ pha lẫn vào nhau ở nồng độ loãng).· Trường hợp cây phát triển kém có thể phun chế phẩm nhiều lần, mỗi lần cách nhau 10-15 ngày.

Những ruộng chỉ định không được dùng chế phẩm· Ruộng bị sâu bệnh không có khả năng cứu chữa.. Ruộng thiếu nước bị hạn nặng./.
Tác giả: Duy Huynh - Phòng Trồng trọt, Sở NN Thanh Hóa