Trồng và chăm sóc hoa lan

Cung cấp kiến thức về kỹ thuật trồng và chăm sóc các loại hoa lan.

Cát lan - Cattleya Labiata

Cattleya Labiata - The Queen Of The Flower, xứng đáng với tên gọi Nữ hoàng của các loài hoa bởi vẻ đẹp, hương thơm, tuổi thọ và kích cỡ hoa.

Lan Hoàng thảo - Dendrobium

Là chi lan lớn thứ hai của họ nhà lan, là loại lan phổ biến nhất trong giới chơi lan.

Địa lan - Cymbidium

Địa lan luôn làm người chơi lan hài lòng bởi vẻ đẹp cao sang của chúng

Lan Vũ nữ - Oncidium

Vũ nữ còn được gọi là Dancing Lady, một loại lan dễ trồng và chăm sóc, cho hoa đều đặn hàng năm

Lan Hồ điệp - Phalaenopsis

Lan Hồ Điệp luôn được nhiều người mua trong dịp Tết Nguyên Đán

Lan Hài - Paphiopedilum

Lan Hài luôn cho người trồng những bông hoa đẹp và lạ

Vân lan - Lan Vanda

Khả năng cần nhiều ánh sáng, chịu nắng nóng có lẽ Vanda là loài tốt nhất, có lẽ vậy nên hoa Vanda luôn có màu sắc đẹp

Lan rừng

Có nhiều điều thú vị, nơi đây nói chung về các loại lan không có trong các nhóm kia

Thứ Sáu, 12 tháng 1, 2018

Kỹ thuật trồng và chăm sóc địa lan

Kỹ thuật trồng và chăm sóc địa lan

Chậu trồng mà sâu sẽ thúc đẩy sự phát triển rễ và giúp cây khỏe mạnh. Những chậu vừa sâu vừa rộng giúp cây phát triển nhiều chồi cây, nhưng hoa sẽ ít và yếu. Những chậu sâu và hẹp sẽ thúc đẩy việc cho ra những cành hoa hoa cao, khoẻ mạnh và những bông hoa đầy sức sống.

Cách trồng những giống địa lan Mini: trồng cây trong các chậu lan Châu Á. Sức sống của của Địa lan Châu Á biểu hiện ở bộ rễ rất dài và khoẻ mạnh.

Chậu trồng mà sâu sẽ thúc đẩy sự phát triển rễ và giúp cây khỏe mạnh. Những chậu vừa sâu vừa rộng giúp cây phát triển nhiều chồi cây, nhưng hoa sẽ ít và yếu. Những chậu sâu và hẹp sẽ thúc đẩy việc cho ra những cành hoa hoa cao, khoẻ mạnh và những bông hoa đầy sức sống.

Không phải ngẫu nhiên mà mỗi địa lan Châu Á lại phát triển trong chậu có kích thước nhỏ tương tự. Chậu trồng lan Châu Á đã có sự cải tiến qua thời gian để có thể hoàn toàn cân xứng hài hoà với cây lan.

I. CẤU TẠO CỦA ĐỊA LAN

Cây địa lan Châu Á thường rất khoẻ mạnh. Mỗi sự tăng trưởng là một giả hành mà nó được tách ra từ các của bẹ khác hoặc củ của cây mẹ. Mỗi giả hành đều có một bộ rễ độc lập.

1) Rễ của địa lan

Trái với rễ của cây địa lan lai, rễ của cây địa lan Châu Á rất ít khi phân nhánh và do vậy rễ không đan xen vào nhau. Thân cây mới thường rất ngắn, 2 - 3cm và hẹp 1,5cm. Thân cây đỡ nhiều lá, chúng phân nhánh từ mặt chậu.

Giả hành đóng vai trò là nơi dự trữ nước và chất dinh dưỡng chính cung cấp cho cây.

So với các loại lan khác, giả hành của địa lan nhỏ và không thể dự trữ được nhiều nước, vì vậy cần phải tưới nước thường xuyên trong suốt quá trình sinh trưởng của chúng (Xem các điều kiện phát triển).

2) Lá của địa lan

Đối với những người sưu tập lan Châu Á thì lá của địa lan gần như quan trọng hơn cả hoa. Lá cây có thể rất dày và dài phụ thuộc vào các loài.

Chẳng hạn, Cym Georengii có thể đến 1cm và dài 15,24cm, trong khi loại Cym Siense có thể đến 4cm và cao đến 45,72cm. Hầu hết lá cây phẳng nhưng một số có hình bầu dục giống như "Tu Er Lan" (Lan tai thỏ).

Một số biến thể khác bao gồm lá cong, vặn và xoắn, nhưng điều quan trọng nhất đối với những người sưu tập lan là đó là những hình thái của biến thể khảm (điểm nhiều đốm màu khác nhau).

Biến thể khảm đã xuất hiện qua quá trình tiến hoá và tiến xa hơn qua quá trình lai tạo. Những biến thể đó có thể được phân loại thành vài loại dựa vào hình mẫu của biến thể và màu sắc.

Nói chung, biến thể khảm được coi là các biến thể mạnh mẽ hơn, được quan tâm hơn và có giá trị hơn.

3) Hoa của địa lan

Hoa của cây địa lan Châu Á thường nhỏ, khi so sánh với hầu hết các loài địa lan khác. Ngồng hoa có thể cao gấp 2 lần chiều cao của cây. Số hoa, hình dáng hoa, hương thơm và thời gian tàn của hoa thay đổi tuỳ từng loài. Trong mỗi loại, các biến thể được đặt tên dựa vào màu sắc của hoa.

Chẳng hạn, trong dòng Sinence, có các biến thể hoa mà hầu như được biến thiên từ màu đen chủ đạo, như sinense "San Chuan", hoa có màu vàng tuyền như loại "Wu Tsu Tsai", màu đỏ như sinense "Ta Ming" và có màu trắng tuyền như sinense "Bai Mo Su". Các loại hoa có thuần 1 màu là có giá trị nhất.

II. ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN CỦA ĐỊA LAN
 
Trong việc trồng địa lan Châu Á, cho dù nó được trồng trong nhà kính, trồng dưới ánh đèn hoặc bên ngoài khí hậu ôn hoà, cần phải có sự quan tâm đặc biệt đến chất trồng, chậu trồng cây và các điều kiện phát triển.

1) Chậu trồng địa lan châu Á

Nhiều thế kỷ, người trồng lan Châu Á sử dụng các loại chậu đặc biệt để kìm hãm sự phát triển của rễ theo bề rộng, rễ phát triển theo chiều sâu của chậu và duy trì sự thông thoáng. Đó không phải là ngẫu nhiên mà trong mỗi chiếc chậu đặc biệt để trồng các cây địa lan châu á đều có kích thước phù hợp: tỉ lệ giữa đường kính chậu và chiều dài là 1:3. Các loại chậu khác nhau về hoa văn. tất cả chúng được tráng men hoặc không tráng men.

Tại Hàn Quốc, chậu trồng lan truyền thống có hình ống, hẹp ở giữa, miệng loe ra và có các lỗ thông hơi bên cạnh chậu cũng như dưới đáy bình. Tại Trung Quốc, chậu có thể hình vuông hoặc hình ống, có lỗ thoát nước bên cạnh chậu và có đôn để kê chậu lan. Tại Nhật Bản, chậu thường đơn điệu, hình ống với miệng chậu loe và 3 chân.

Hiện nay có các loại chậu bằng nhựa của Đài Loan và Nhật Bản, một số trong chúng có thể tháo lắp được để dễ dàng kiểm tra rễ của địa lan và có các lỗ thông thoáng bên cạnh.

Nên chọn chậu phù hợp với kích cỡ và hình dáng của cây và không được kìm hãm nó. Chậu phải là nơi để cho cây phát triển mới, nhưng cần phải hạn chế sự phát triển rộng ra của bộ rễ. Các loại chậu của Hàn Quốc là thích hợp để trồng Cym Sinence, bởi vì chúng rộng hơn và thông thoáng hơn, trong khí cây Cym Ensifolium trông đẹp hơn khi trồng trong các chậu sáng và nhỏ hơn. Nếu bạn không muốn dùng chậu địa lan Châu Á, nên dùng các chậu nhựa sâu hoặc chậu có thể trồng nhiều cây cùng loại trong một cái bình thường làm cho cây chật rễ.

Khi dùng các chậu gốm sứ mới mua về nên ngâm chúng trong nước vài ngày trước khi trồng cây để ngừa việc đất sét hút ẩm của chất trồng và kìm hãm sự phát triển của cây địa lan. Chậu tráng men cần phải được rửa sạch nhằm loại bỏ các chất bẩn, sáp hoặc chất đóng gói.

2) Chất trồng

Chất trồng truyền thống cần phải có độ thoát nước tốt, có hàm lượng dinh dưỡng cao, chống thối rễ, có độ thông thoáng tốt, và chi phí hợp lý. Để đáp ứng được các mục tiêu này, chất trồng phải là một hỗn hợp. Tiêu chuẩn của chất trồng sử dụng là một hỗn hợp của vỏ thông, than củi và đá.

 
Đá phải chuẩn được rửa sạch, chọn đá nhỏ cỡ sỏi hạt đậu. Khi trọng lượng là mối quan tâm, thì thay thế bằng đá trân châu thô. Đổ hỗn hợp vào trong một cái khay lớn và lắc đều để lựa ra kích cỡ của các hạt chất trồng.

Lót sỏi hạt đậu dưới đáy chậu. Sau đó bắt đầu với hỗn hợp thô bên trên và dùng chất trồng mịn hơn nhồi vào trong chậu. Cách mặt chậu khoảng 2,54cm, nên cho hỗn hợp (đá trân châu, than củi và vỏ thông). Nhiều lúc có thể sử dụng hỗn hợp mảnh, ẩm. Khi trồng dòng Einsifolium, nên dùng chậu gốm hoặc chậu có lỗ thông hơi bên cạnh, sự dụng đến 20% dương xỉ sợi để duy trì độ ẩm.

3) Ánh sáng

Mức độ chiếu sáng rất quan trọng đối với sự phát triển của địa lan. Thiếu ánh sáng cây sẽ yếu ớt và phát triển không bình thường. Nhiều ánh sáng quá mức sẽ làm hư hại lá cây và đặc biệt đối với các loài biến thể, sẽ làm giảm bớt giá trị thưởng thức do ánh sáng làm thay đổi màu sắc của cây.

Trong suốt những tháng mùa hè, nếu trồng cây ở nơi có ánh nắng, cần che bớt ở mức 50-70%. Những loài địa lan xuất xừ từ vùng núi cao hơn như Gorengi và Faberi tỉ lệ che sáng cần phải cao hơn.

Trong suốt mùa đông, độ che sáng cần ở mức 20-50%. Bởi trong môi trường có độ che phủ này, cây địa lan Châu Á sẽ là ứng viên xuất sắc để phát triển dưới ánh sáng tán xạ, khó khăn duy nhất là vấn đề duy trì độ ẩm cao.

Một số ví dụ tốt nhất về Cym Sinence được tìm thấy trong văn phòng nhà máy đóng chai nước tại Trung Quốc. Tại đây, cây địa lan Châu Á được đặt dưới dãy đèn chiếu sáng khoảng 1,2 - 1,5 mét và nơi được chiếu sáng 12-16 giờ mỗi ngày. Sự kết hợp của độ ẩm cao, thời gian chiếu sáng dài và gió thổi nhẹ là một môi trường hết sức lý tưởng.

4) Nhiệt độ

Nói chung, nhiệt độ lý tưởng cho sự phát triển của Địa lan là 20-30 độ C. Nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm là 10 độ C. Tuy nhiên, các loại khác sẽ phát triển lý tưởng ở các mức nhiệt độ khác.

Chẳng hạn, dòng Faberi và Gorengi tìm thấy trong tự nhiên ở những vùng cao có mức nhiệt độ là 15-25 độ C, và chúng có thể chống chịu được nhiệt độ mùa đông băng giá. Nhiệt độ mùa hè quá 30 độ C sẽ kìm hãm sự phát triển và khả năng ra hoa của chúng.

Mặt khác, dòng Sinence được tìm thấy ở những vùng thấp hơn, không thể chống chịu lại được điều kiện nhiệt độ xuống thấp quá 5 độ C, làm kìm hãm sự phát triển, nhưng có thể chiụi đựng được nền nhiệt độ cao vào mùa hè (trên 30 độ C) miễn là đảm bảo được độ ẩm cao để hỗ trợ.

Sự kìm hãm tăng trưởng gây ra bởi nhiệt độ mùa hè cao được biểu hiện ở những mầm cây cằn cỗi không ra hoa trong mùa tiếp theo. Khi sống trong khí hậu có nền nhiệt độ mùa hè có thể lên đến 30 độ C cần phải tăng độ thông thoáng và sử dụng hệ thống phun sương tự động hoặc hơi mát để gia tăng độ ẩm và giữ cho nhiệt độ giảm xuống.

5) Độ ẩm

Có 2 thời kỳ phân biệt rõ ràng cho cả hai việc tưới nwocs và kiểm soát độ ẩm. Suốt những tháng nghỉ đông, từ tháng 10 đến tháng 3, độ ẩm cần được kiểm soát ở mức 40-60%.

Trong suốt thời kỳ tăng trưởng, giữa tháng Tư đến tháng 9, độ ẩm cẩn phải được duy trì trên 80% kết hợp với duy trì sự lưu thông không khí. Người trồng cây trong nhà cần phải nâng độ ẩm bằng cách sử dụng các khay nước đặt dưới đáy chậu cây.

Những chiếc khay này cần phải được nhồi đầy sỏi nhẹ để giữ cho nước không chạm vào rễ cây trong khi tạo ra tiểu vùng khí hậu cho cây. Người trồng cây ngoài trời, sử dụng mái che thuận tiện cho việc che sáng có thể kết hợp tưới buổi sáng với phun sương ẩm suốt cả ngày để gia tăng độ ẩm xung quanh cây. Khi sử dụng cách này cần lưu ý trong suốt thời kỳ cây lên mầm mới. Nước có thể đọng tại mầm cây và đó là nguyên nhân thối mầm. Việc đó sẽ giết chết mầm cây.

6) Sự thông thoáng


Tất cả các loài Địa lan Châu Á đều ưa sự thông thoáng. Kém thông thoáng sẽ tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển, sâu bọ phá hoại và chất trồng chóng hoai mục.

Quạt gió, quạt công nghiệp và quạt thông hơi mức cao đều có thể được sử dụng.

Tại nhà kính, nên có vài dãy kệ để cây. Các giá để có lỗ, các chậu địa lan được đặt trong các lỗ đó. Sự sắp xếp này để gia tăng sự thông thoáng cho cây.

Nên cho quạt chạy liên tục để gia tăng sự lưu thông không khí. Quạt thông hơi và mái thông hơi tự động góp phần vào việc kiểm soát nhiệt độ. Nếu nhà kính nóng quá, các quạt thông gió sẽ hút gió ra ngoài để làm mát nhà kính. Nên sử dụng 2 hệ thống phun sương, một được dùng để kiểm soát độ ẩm, cái còn lại hoạt động tự động cùng với quạt thông gió để làm mát, và để bù đắp lại lượng hơi ẩm đã mất đi do quạt thông gió.

7) Chế phẩm hữu cơ sinh học KH cứu được bệnh thối rễ ở địa lan

Những ngày qua, các chủ vườn lan ở thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng) phải đối mặt với bệnh thối nhũn rễ địa lan làm mất trắng hàng trăm triệu đồng tiền giống. Theo các chủ vườn lan, nguyên nhân gây ra bệnh này là do trời mưa nhiều, ẩm ướt nên các củ giống không chịu nổi. Tình trạng lây lan bệnh rất nhanh do căn bệnh này từ trước đến nay chưa có thuốc trị.

Kỹ thuật trồng Địa lan - Cymbidium

Kỹ thuật trồng Địa lan - Cymbidium

Thổ lan có hai loại: hoa lớn (standard) và hoa nhỏ (miniature) sau này những nghệ nhân đã ghép ra một loại là hoa vừa (novelty) được ghép từ hoa lớn với hoa nhỏ, và những loại hoa rũ buông thõng (pendulous) được ghép ra hầu hết từ giống thổ lan Gấm Ngũ Hổ (devonianum) hay cây Lộ Hồi (aloifolium).

Hình dáng thổ lan đều giống nhau, lá dài, bẹ củ, dò hoa mộc ở dưới gốc lên, nhiều giống một củ ra hai dò hoa hay nhiều hơn, và có loại ra dò hoa hai năm liên tiếp cùng một củ, những loại đó thường được ghép với giống Cym. suave hay Cym. madidum, hai giống này từ Úc Châu, như cây Hà Bui 90% được ra hoa hai năm liên tiếp cùng một củ.

Đa số thổ lan nở hoa vào mùa đông, xuân, nhưng sau này có nhiều loại được làm ra nở hoa vào mùa hè hoặc cuối hè, những loại này được làm ra để cung ứng cho thị trường Nam Mỹ, Á Châu và cũng được trồng ở Texas, Flolida, loại này cũng trồng được ở miền nam Việt Nam, nếu những nơi đó hội được điều kiện nhiệt độ ban ngày 90-95°F (hay 32-35°C), ban đêm 70-75°F (hay 21-23°C).

CÁCH TRỒNG

Nhiệt Độ
Thổ lan cần nhiệt độ thay đổi ngày nóng, đêm lạnh .ban ngày 80-90°F (27-32°C ) ban đêm 50-60°F (10-15°C). Thổ lan có thể chịu nóng tới 100°F và lạnh tới 30°F miễn là không đóng băng, ngoài ra nếu không có sự cách biệt giữa ngày và đêm tối thiểu từ 15°F cho đến 20°F (13-16°C), hầu như thổ lan sẽ không ra hoa.

Ánh Sáng
Thổ lan cần nhiều ánh nắng, nhưng phải che lưới để phòng bị cháy lá. Nhiều ánh sáng sẽ dễ ra hoa, có nhiều hoa hơn và mầu sắc sẽ trung thực hơn, thiếu ánh sáng sẽ làm cho hoa nhạt đi. Không thể nuôi thổ lan ở trong nhà hoặc ở những nơi rợp mát. Thổ lan vẫn ra hoa không cần phân bón, nếu đầy đủ ánh sáng, nhưng nếu có phân bón thì sẽ có nhiều hoa hơn. Thật ra ánh sáng mới là thức ăn chính cho cây cỏ bông hoa, còn phân bón chỉ là thuốc bổ mà thôi.

Ẩm Độ

Thổ lan cần độ ẩm từ 40-70%, mùa hè cần tưới nước xuống đất hay phun sương vào buổi sáng hay chiều để tăng thêm độ ẩm.

Tưới Nước


Thổ lan cần tưới nước mỗi tuần một lần, nhưng mùa hè cần tưới nhiều hơn, có thể tưới 2-3 lần tùy theo địa phương, không nên để cây bị thiếu nước lúc cây đang phát triển, khi cây đã ngưng tăng trưởng bớt tưới nước, nhưng đừng để cây bị khô rễ, sẽ làm cho cây bị khựng lại, và có thể sẽ không ra hoa.

Bón Phân

Khi mùa phát triển cho cây con, cần bón phân 30-10-10 mỗi tuần một lần, chỉ dùng ¼ của công thức của nhà chế tạo. Thí dụ công thức dùng 1 tsp cho một gallon nước thì dùng ¼ tsp cho một gallon nước, để tránh cây khỏi bị cháy lá. Khi cuối tháng 8 dùng phân bón 6-30-30 hay 10-52-10, cuối tháng 11 ngưng tưới phân, chỉ tưới nước thường, tưới thêm phân sẽ làm cho nụ hoa bị nóng có thể bị rụng hay bị có tật.

Thay Chậu

Trung bình 2-3 năm nên thay chậu một lần - nếu trồng bằng vỏ thông, 4-5 năm một lần - nếu trồng bằng vỏ dừa.

Trồng thổ lan bằng:

Vỏ thông vừa ½” (medium grade) 4 phần vỏ thông, 1 phần perlite
Vỏ thông lớn ¾” (large grade) 4 phần vỏ thông, 1 phần perlite
Vỏ dừa vừa ½” (medium grade) 4 phần vỏ dừa, 1 phần perlite
Vỏ dừa lớn ¾” (large grade) 4 phần vỏ dừa, 1 phần perlite


Trước khi thay chậu hay chia cây, nên ngâm các vật liệu trong nước nhiều giờ, không nên dùng potting soil (đất) tuy gọi là thổ lan nhưng không nên trồng với đất hay dưới đất, vì dễ bị ứ nước sẽ dễ bị thối rễ.

Khi dùng vỏ dừa nên ngâm cho thật kỹ, khi nào không còn thấy đậm như nước trà nữa thì dùng sẽ tốt hơn.

Không nên để hoa tàn hết trên cành, nếu còn khoảng 2-3 nụ thì nên cắt xuống rồi cắm vào trong những bình hoa, nếu để tàn hết trên cành sẽ làm cho cây yếu đi, sẽ khó ra hoa cho mùa tới.

Sau khi hoa tàn là thời gian tốt nhất để thay châu hay chia cây, cắt bỏ rễ khoảng 2-3” inch từ đáy chậu, lấy hết vật liệu cũ ra, cắt bỏ những củ già không có lá (back bulb) và tỉa bỏ những rễ chết. Khi tách ra làm nhiều phần, nên giữ tối thiểu 3-5 nhánh, những củ già không lá, rửa sạch để cho ráo nước rồi bỏ vào bao nylon, buộc miệng kín lại rồi để vào chỗ rợp mát, khi nào củ mọc mầm và rễ rồi sẻ trồng lại.

Khi trồng, lựa chậu đủ chỗ cho lan mọc trong 2-3 năm, cách mép chậu khoảng 2-3” inch, đặt củ già gần mép chậu, để ý hướng cây mọc, chừa cho chỗ mầm non mọc lên, bỏ vỏ cây hay vỏ dừa vào rồi nén cho thật chặt, tưới B1 pha 1 thìa súp cho 1 gallon nước, xong rồi để vào chỗ rợp mát 2-3 tuần mới tưới.

Cách trồng địa lan của các cụ ngày xưa

Cách trồng địa lan của các cụ ngày xưa

Chất trồng và phân bón đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc trồng địa lan. Nay xin giới thiệu cách mà các cụ ngày xưa đã sáng tạo ra chất trồng và phân bón cho địa lan như thế nào.

Chăm sóc địa lan cũng không hề đơn giản, cách chăm sóc ở vườn này không thể áp đặt1 cách máy móc sang vườn khác. Không ai dám tuyên bố là mình trồng lan mà không chết cây nào. Chất trồng và phân bón đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc trồng địa lan. Nay Blog xin giới thiệu cách mà các cụ ngày xưa đã sáng tạo ra chất trồng và phân bón cho địa lan như thế nào.

Đất trồng địa lan được các cụ xưa làm rất cầu kỳ. Cần chuẩn bị 1 số chất liệu để trồng địa lan:

+ Đất bùn ao (loại bùn lấy từ những ao sạch không bị nhiễm bẩn) được đưa về phơi khô, nghiền nhỏ như bột.
+ Đất phù sa mịn cũng được phơi khô nghiền nhỏ.
+ Ốc đồng đem ngâm từ 8 tháng đến 1 năm cho hết mùi hôi.

Cách pha trộn chất trồng địa lan:

+ Hai loại đất trên được pha trộn theo tỉ lệ nhất định rồi đem rang trong chảo rang “chín” để nguội cho chết hết trứng giun, trứng ốc sên, mầm cỏ và sâu bệnh.

+ Dùng nước ốc pha trộn theo tỉ lệ: 3 phần nước sạch trộn với 1 phần nước ốc. Sau đó, trộn hỡn hợp này vào đất rồi cán mỏng chừng 2,5-3cm, dùng dao cắt thành nhiều miếng lớn nhỏ khác nhau rồi phơi thật khô để dành trồng lan.

Nước tưới cho địa lan là loại nước sạch, tốt nhất là nước mưa đã được để thoáng lâu ngày. Có thể pha thật loãng với nước vo gạo để tưới cho cây rất tốt. Chậu trồng địa lan cần thoáng, mát, thoát nước nhanh, nếu đọng nước địa lan sẽ rất dễ chết.

Thứ Năm, 11 tháng 1, 2018

Lan chu đỉnh lông - Spathoglottis pubsences

Lan chu đỉnh lông - Spathoglottis pubsences

Lan đất, củ giả nhỏ, thân cao 40 - 50cm, mang 2 - 3 lá ở gốc. Lá hẹp, dài 20 - 30cm, rộng 1 - 2cm, thuôn ở đỉnh, gốc có cuống. Cụm hoa dài, hoa khá lớn, màu vàng. cánh môi chia 3 thùy, giữa có 3 gân.

Tên Việt Nam: Lan chu đình lông
Tên Latin: Spathoglottis pubescens
Đồng danh: Spathoglottis pubescens Lindl
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất

Mô tả: Lan đất, củ giả nhỏ, thân cao 40 - 50cm, mang 2 - 3 lá ở gốc. Lá hẹp, dài 20 - 30cm, rộng 1 - 2cm, thuôn ở đỉnh, gốc có cuống. Cụm hoa dài, có lông mềm, gốc 3 - 4 bẹ, đỉnh 7 - 10 hoa. Hoa khá lớn, màu vàng. cánh môi chia 3 thùy, giữa có 3 gân.

Phân bố:

Cây mọc ở vùng núi cao: Sapa (Lào Cai), Langbian (Lâm Đồng) và phân bố ở Lào, Ấn Độ, Mianma, Thái Lan, Trung Quốc.

Ở Đà Lạt (Lâm Đồng) có một chủng lá hẹp hơn là: Spathoglottis pubescens var. fortunei (Rchb.f.) Gagnep.

Tài liệu dẫn: Phong lan Việt Nam - Trần Hợp - trang 194.
 

Cách trồng một số loại địa lan thân củ

Cách trồng một số loại địa lan thân củ

Một vài loại địa lan, đến mùa không phù hợp cây sẽ trút bỏ bộ lá, lấy chất dinh dưỡng trong phần thân phình to đó để sống qua mùa nghỉ!

Đầu tiên, "củ" lan không phải là củ mà là thân ( với Bầu rượu - Calanthe, Hạc đính - Phaius,lan Luân - Eulophia, Bạc diệp - Tainia) hoặc thân củ (Chu đỉnh vàng - Spathoglottis aurea, Thiên quỳ - Nervilia, Bạch cập - Bletilla). Tới đây thì sẽ có người thắc mắc: thân củ với củ thì khác nhau cái gì? Xin thưa, củ là phần phình ra ở rễ để chứa chất dinh dưỡng "để dành" cho cây nhưng không mang mầm như khoai lang, khoai mì hay củ cải, cà rốt; còn thân củ cũng là "kho thực phẩm để dành" nhưng có mang mầm để có thể phát triển độc lập sau thời gian nghỉ tránh mùa khắc nghiệt, thân củ thường gặp nhất chính là khoai tây, gừng, nghệ! Vấn đề tiếp theo đó là: thân mà sao giống củ thế? Là vì vài loại địa lan, đến mùa không phù hợp cây sẽ trút bỏ bộ lá, lấy chất dinh dưỡng trong phần thân phình to đó để sống qua mùa nghỉ!

Bây giờ đến cách phân biệt các chi lan có "củ" nhé ( thật ra cũng chỉ tương đối thôi vì mỗi chi có vài loài đến cả chục loài thì tất nhiên hình dạng "củ",kích thước "củ" có khác nhau)

Bầu rượu Calanthe
Cây có từ 4-6 lá to bản, "củ" hình chóp nón có thể thắt bầu rượu hoặc không, nhiều gân dọc, đặc điểm để phân biệt lớn nhất là có một đốt trên thân dài hơn các đốt khác nhiều lần, vòi bông mọc từ gốc
 

Lan kiến cò râu - Habenaria medioflexa

Lan kiến cò râu - Habenaria medioflexa

Loài lan đất, thân cao đến 50cm, lá mọc sát gốc, dạng trái xoan có mũi ngắn ở đỉnh, dài 20cm, rộng 5cm. Cụm hoa chùm ở đỉnh, hoa màu xanh, xếp thưa.

Tên Việt Nam: Lan kiến cò râu
Tên Latin: Habenaria medioflexa
Đồng danh: Habenaria medioflexa Turrill
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất

Mô tả: Loài lan đất, thân cao đến 50cm, lá mọc sát gốc, dạng trái xoan có mũi ngắn ở đỉnh, dài 20cm, rộng 5cm. Cụm hoa chùm ở đỉnh, hoa màu xanh, xếp thưa. Cánh môi có 3 thùy, hai thủy bên xẻ thành nhiều giãi hẹp, dài. Thùy giữa hẹp nhọn cựa dài 3 - 4cm, cong.

Phân bố: Cây mọc từ Tây Nguyên (Kontum, Gia Lai) đến Nambộ: Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, và phân bố ở Campuchia, Thái Lan, Malaysia.

Tài liệu dẫn: Phong lan Việt Nam - Trần Hợp - trang 134.
 

Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2018

Phòng trừ sâu hại địa lan

Phòng trừ sâu hại địa lan

Sâu hại hoa địa lan rất nhiều, ngoài làm hại cây nó còn là môi giới truyền bệnh chủ yếu, phải phun thuốc định kỳ nhằm tiêu diệt triệt để và cần phải phun thuốc trừ sâu theo mùa để loại trừ sâu hại nở theo mùa.

Sâu hại hoa địa lan rất nhiều, ngoài làm hại cây nó còn là môi giới truyền bệnh chủ yếu. Thường chia làm 2 loại chính: một là loại gây hại thường xuyên như các loại nhện, các loại rệp, đối với loại này phải phun thuốc định kỳ nhằm tiêu diệt triệt để. Hai là sâu hại mang tính thời vụ như sâu róm, sâu năn, cần phải phun thuốc trừ sâu theo mùa.

Bọ trĩ (Thripidae sp.)

Bọ trĩ rất nhỏ, có 2 loài.

Loài màu vàng nhạt: Thân dài 1mm, mang 4 cánh dài, hẹp. Chích hút lá non tạo đốm vuông, vết bệnh chuyển từ màu vàng trắng sang nâu đen.

Loài màu đen: Thân dài 1-2mm, trên lưng có đốm vàng, cánh rất ngắn, gây hại trên hoa, tạo những đốm tròn trong như giọt dầu, ở giữa có một chấm vàng.

Bọ trĩ di chuyển rất nhanh, khi trời nắng chúng chui nấp trong bẹ lá hoặc trong các lớp lá non ở ngọn. Sau khi bị hại, các chồi non, lá non, nụ hoa không phát triển, cánh hoa bị quăn lại. Bọ trĩ gây thiệt hại cho địa lan lúc đang ra hoa, chúng thường phát triển trong mùa khô.

Biện pháp phòng trừ:

– Khi thấy có triệu chứng hại trên lá non, cần phun thuốc phòng trừ, có thể phun 2-3 tuần 1 lần.

– Biện pháp hóa học: Hiện nay trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật chưa có thuốc đăng ký phòng trừ bọ trĩ hại hoa địa lan. Có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc có hoạt chất như: Emamectin benzoate, Spinetoram, Imidacloprid + Pyridaben

Rệp

Rệp thường gặp ở địa lan, có rất nhiều loại khác nhau và thường phát sinh khi nhiệt độ, ẩm độ cao, không khí ít lưu thông. Rệp thường kết thành từng mảng, mặt ngoài của con đực được phủ bởi một lớp sáp trắng tựa bông, trú ngụ ở thân giả, rễ và lá, mặt dưới của lá nhiều hơn mặt trên, rồi sau đó rệp có thể lan dần khắp các bộ phận của cây.

Lá có rệp bám biến thành màu vàng, giữa đốm vàng có khi thành mầu nâu, lá lõm xuống. Thức ăn của nó là nhựa cây, rệp trưởng thành được phủ bằng chất dịch tiết ra có màu trắng hoặc màu khác, nó cố định tại 1 chỗ và hút nhựa cây làm thức ăn. Bị nhẹ làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây, khi bị nặng phủ đầy trên mặt lá. Đồng thời, rệp còn có khả năng tiết ra mật ngọt, thu hút sự tập trung của kiến cho nên khi cây có rệp có kiến cộng sinh và phát sinh bệnh muội tạo thành lớp thực khuẩn tựa như muội xám, vừa tiêu hao dinh dưỡng, vừa ảnh hưởng đến quang hợp làm cho cây sinh trưởng kém, thậm chí lá bị khô, rụng lá rồi chết. Rệp thường phát sinh ở những nơi quá ẩm không thông thoáng cho nên hàng ngày phải chú ý tạo cho cây thông thoáng, tránh quá ẩm ướt, Có thể diệt rệp bằng thủ công (lau, vuốt), cũng có thể phun thuốc trừ rệp. Đối với loại địa lan có giá trị cao nên dùng các biện pháp phòng chống sự phát sinh của rệp.

Nhện đỏ (Tetranychus tricatus)

Nhện đỏ rất nhỏ, khó thấy bằng mắt thường. Nhện non có màu vàng cam, trưởng thành con cái mình tròn màu đỏ tươi ở phần bụng và đỏ sẫm ở phần hông. Ở hai bên lưng nhện đỏ có nhiều đốm đen chạy dài từ ngực xuống cuối bụng. Nhện đỏ có 4 cặp chân dài màu vàng nhạt, chiều dài của nhện cái là 0.2mm. Con đực nhỏ hơn, mình hình bầu dục, hơi nhọn lại ở đuôi, hai đốt cuối màu đỏ chói.

Nhện đỏ sống giữa bẹ lá, thân và cả mặt dưới lá. Nhện đỏ phá hại lan bằng cách bám ở dưới lá và chích hút diệp lục tố của lá, tạo ra những chấm nâu nhỏ dưới mặt lá làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của lá, làm cho nụ và hoa bị hư hỏng, kém chất lượng.

Nhện đỏ phát triển trong điều kiện khô và nóng. Vòng đời của nhện đỏ khoảng 15 ngày và mỗi con có thể đẻ đến hàng trăm trứng.

Biện pháp phòng trừ:

– Do chúng thích hợp ở điều kiện khô nên cần giữ độ ẩm thường xuyên trong vườn lan thích hợp, hạn chế sự phát triển của nhện.

– Hiện nay trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật chưa có thuốc đăng ký phòng trừ nhện đỏ hại hoa địa lan. Có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc có hoạt chất như: Abamectin; Milbemectin; Emamectin benzoate; Fenpyroximate; Hexythiazox; Propargite.

Ốc sên vỏ nâu vàng (Theba pisana)

Thành trùng ốc sên có vỏ vôi cứng màu nâu vàng, hình hơi tròn và có vòng xoắn. Đầu có 2 cặp râu. Cặp râu trên dài hơn và có mắt ở đỉnh râu. Cặp râu dưới ngắn hơn có tác dụng lựa chọn thức ăn. Cả 2 cặp râu đầu đều hoạt động rất linh hoạt, giúp cho ốc di chuyển đúng hướng và lựa chọn thức ăn. Ốc sên đẻ không liên tục, trứng được đẻ thành từng ổ, mỗi ổ có số trứng biến động từ 5-80 trứng. Phần lớn ổ trứng có số lượng 10 – < 50 trứng.

Trứng có vỏ nâu hình cầu có đường kính 1,9 – 2,1mm, màu trắng sữa, vỏ ngoài trơn và bóng. Trứng được đẻ xếp chồng lên nhau, liên kết với nhau bằng một lớp keo. Trứng thường được đẻ sâu trong lớp giá thể. Gần nở trứng có màu nâu nhạt, thời gian ủ trứng 18 – 25 ngày.

Ấu trùng mới nở màu trắng sữa, có 1 vòng xoắn, đường kính 1,5 – 2,0 mm, 1,1 – 1,2 mm, chiều cao, ít di chuyển, râu đầu chưa rõ ràng. Ấu trùng lớn rất chậm.

Ốc sên vỏ nâu vàng hoạt động và gây hại vào ban đêm và những ngày có mưa. Những ngày mưa lớn chúng thường bám vào trụ và bò lên dàn phá hại mầm hoa, cánh hoa. Ốc sên vỏ thường cắn phần đầu mầm hoa, đôi khi cắn đứt cả mầm hoa. Những cành hoa đã nở ốc sên vỏ thường gặm phần biểu bì cánh hoa chừa lại lớp màng mỏng màu trắng. Ốc sên vỏ tiêu hoá nhanh, di chuyển lại chậm, do đó chúng thường bài tiết ngay trên đường di chuyển. Ngoài ra trên đường di chuyển, ốc sên vỏ còn để lại vết nhớt màu trắng bạc.

Mùa khô khi ẩm độ không khí thấp, ốc sên vỏ di chuyển xuống dưới dàn, núp trong lớp cỏ dại hay trong khe đất. Tuy vậy ốc sên vỏ nâu có khả năng sống tiềm sinh ngay trên trụ dàn bằng xi măng hay cột gỗ.

Rầy

Có rất nhiều loại rầy khác nhau, rầy đa số ký sinh ở thực vật. Sau khi giao phối đẻ trứng vào nách lá và các rễ nút, trong phòng ấm nó có thể đẻ trứng quanh năm. Các bộ phận non của hoa địa lan như lá, mầm nụ đều bị rầy phá hại, chúng dùng vòi cắn vào các bộ phận của cây hút lấy nhựa làm giảm dinh dưỡng của cây, hoặc tiết vào cây một acid amin nào đó giảm khả năng phân giải làm cho cây mất đi khả năng tự cân đối trong quá trình sinh trưởng phát triển.

Cây bị rầy lá bị lốm đốm, nhỏ đi xoăn lại dần đến dị dạng. Mặt khác các chất thải của rầy với số lượng lớn có thể trưởng thành lớp mật phủ trên mặt lá làm ảnh hưởng đến quang hợp, thu hút khuẩn cộng sinh, tạo ra bệnh thối đen, bệnh muội, đồng thời truyền dẫn bệnh Vi rut. Rầy sinh sản rất nhanh một năm có thể sinh sản vài lần đến vài chục lần cho nên phải phòng trị kịp thời. Tháng 3 – 4 là thời gian rầy nở có thể dùng các loại thuốc trừ sâu để phun.

Rệp sáp


Thân nhỏ trên thân phủ đầy phấn, có cánh nhưng không bay. Thường làm hại lá mầm non và đài hoa của địa lan, nó dùng vòi để chích hút lấy nhựa làm cho lá bị vàng khô và nguyên nhân của bệnh thối rữa thân dẫn đến cây bị chết.


Rệp sáp là loại động vật nhỏ, đa số có hình tròn, trứng mầu trắng sữa mỗi ngày đẻ 1 – 2 trứng, sau 50 ngày trứng nở, sau 1 tuần trở thành rệp trưởng thành, là loại ký sinh sống bàng hút nhựa cây. Nó dùng vòi sắc chọc sâu vào tế bào lá hút lấy chất dinh dưỡng, phần dư thừa kết dính lại với nhau làm cho tế bào chết khô. Khi bị nặng tế bào biểu bì sẽ chết, làm cho cây mất cân bằng về nước bốc hơi mạnh, quang hợp giảm thậm chí còn tiết ra chất độc hoặc chất ức chế sinh trưởng xâm nhập vào cây, phá vỡ sự trao đổi chất, ảnh hưởng sinh trưởng phát triển của cây.

Loại rệp này còn làm hại cả thân giả làm cho gốc bị thối rữa, lá bị vàng, thực khuẩn, vi khuẩn có thể lây lan qua các phần bị tổn thương.

Phòng trừ tốt nhất là lúc sâu nở bằng cách dùng các loại thuốc trừ sâu phun liên tục 2 – 3 lần, cách 5 – 7 ngày phun 1 lần. Cũng có thể dùng lưu huỳnh vôi tự pha chế để phun.

Sâu vẽ bùa

Sâu vẽ bùa có thân dài khoảng 2 mm màu xám, cánh trước không màu trong suốt, cánh sau thoái hoá… trứng hình bầu dục màu trắng sữa, sâu non màu trắng dài khoảng 3 mm, nhộng ngắn có màu vàng, sâu thường xuất hiện vào đầu mùa xuân, đẻ trứng vào mép lá, sâu non đục vào thịt lá để lấy thức ăn, tạo thành đường ngoằn ngoèo màu trắng, nó không những làm hỏng lá mà còn làm mất đi vẻ đẹp của cây cành và cũng là nơi để cho bệnh xâm nhập, do đó làm cho cả phiến lá thậm chí cả thân bị thối.

Cách phòng trừ sâu vẽ bùa là khi mới phát sinh ngắt bỏ ngay những lá sâu đem tiêu hủy, cũng có thể phun các loại thuốc diệt sâu liên tục 3 lần, cách 1 tuần phun 1 lần.

Ngoài ra địa lan còn hay bị kiến, bọ nhẩy, nhện gây hại, chúng sống ở trên cây hoặc giá thể, hoặc quanh thân thường hay xuất hiện trên cây địa lan, tuy chúng không trực tiếp gây hại nhưng ảnh hưởng đến việc chăm sóc địa lan. Con nhện có thể nhả tơ trên lá, tuy hàng ngày có làm vệ sinh đến đêm nó lại nhả tơ giăng thành lưới, cần làm vệ sinh thường xuyên môi trường xung quanh, đảm bảo thông thoáng, diệt tận gốc nơi trú ngụ của nhện. Kiến thường cùng chung sống với rệp, rầy ngoài việc ăn mật ngọt do các côn trùng này tiết ra kiến còn giúp rệp, rầy di chuyển từ cây này sang cây khác, làm tăng tốc độ lây lan. Kiến cũng có thể hút dịch của hoa và nhựa chảy ra ngoài. Có thể dùng “Kiến 98” làm thiên địch để diệt trừ. Nếu có ổ kiến ở trong chậu có thể ngâm cả chậu hoa lan vào nước để đuổi nó, sau khi kiến chạy rồi lại nhấc chậu hoa lan lên. Bọ nhảy thường trú ngụ trong giá thể, thông thường rất khó phát hiện, khi tưới nước có thể thấy bọ nhảy theo nước trôi ra ngoài, Có thể làm vệ sinh xung quanh quét sạch rác, đảm bảo vệ sinh, cũng có thể khử trùng giá thể. Nếu cây lan có trạng thái sinh lý tốt có thể để cho giá thể khô một thời gian rồi hãy tưới nước, lặp lại nhiều lần như vậy sẽ giảm được số lượng các sâu hại.
 

Bệnh hại trên cây địa lan

Bệnh hại trên cây địa lan

Tăng cường chăm sóc, tạo cho cây đủ ánh sáng, thông thoáng, tránh bị tổn thương là cách phòng trừ sâu bệnh tốt nhất. Mùa mưa nên phun ít nước, bón thêm phân hữu cơ nhằm nâng cao khả năng chống bệnh, không được bón quá nhiêu đạm.

1. Bệnh thán thư ở địa lan

Các bộ phận của địa lan như thân lá, vỏ thân già, đài hoa cánh hoa thường bị bệnh thán thư, thường thấy ở những cây chăm sóc kém. Những cây tổn thương do rét, ngộ độc thuốc, cháy nắng và những cây sinh trưởng kém do bón quá nhiêu đạm, giá thể quá chua hoặc trồng quá dày, rễ thiếu không khí làm cho bộ rễ phát triển kém đều dễ măc bệnh. Khi vi khuẩn xâm nhập vào lá, vỏ thân già, đầu tiên xuất hiện đốm đen dài trên nền màu xám hoặc xanh vàng và hình thành các bào tử trên đó. Giữa bộ phận chưa bị nhiễm bệnh và bộ phận đã nhiễm bệnh có ranh giới rõ rệt, ở giai đoạn sau vêt bệnh loang dần rồi liền với nhau tạo thành vết lõm hoặc từ màu đen.

Tăng cường chăm sóc, tạo cho cây đủ ánh sáng, thông thoáng, tránh bị tổn thương là cách phòng trừ sâu bệnh thán thư tốt nhất. Mùa mưa nên phun ít nước, bón thêm phân hữu cơ nhằm nâng cao khả năng chống bệnh, không được bón quá nhiêu đạm. Khi bị bệnh nhất thiết không được tưới nước, lập tức cắt bỏ vết bệnh và đem tiêu huỷ.

2. Bệnh thối rữa ở địa lan

Đây là loại bệnh hại do trực khuẩn gây ra với sự xâm nhiễm của men ác tính và men thối rữa trong đơn bào thực vật gây nên. Do đó tùy thuộc vào vị trí sinh bệnh và triệu chứng của bệnh mà còn có thể phân chia thành các bệnh như bệnh thối đen, thối tâm, thối gốc, bệnh đổ rạp. Sự xâm nhập của men ác tính dễ làm cho rễ bị thối, làm đổ cây. Khi bệnh nặng bắt đầu từ lá non sát gốc, lúc đầu lá mất màu xanh hoặc đốm tròn như giọt nước, sau đó loang dần thành các vết thối rữa, màu nâu nhạt, rồi nâu đen, cho đến khi toàn cây bị chết khô. Triệu chứng bệnh rất khó phân biệt với bệnh bạch quyển (lụa trắng) và bệnh do khuẩn lưỡi liềm gây nên. Ở các vùng có khí hậu ấm áp, quanh năm đều có thể phát sinh bệnh nhưng cây bị hại nặng nhất vẫn là mùa xuân do có mưa phùn ít nắng, môi trường không thông thoáng. Cây địa lan sau khi phát bệnh nếu như không xử lý kịp thời sẽ lan đến thân giả và bộ rễ là loại bệnh hủy hoại hoàn toàn. Bệnh này có thể bị lây lan qua mưa, cũng có thể lây qua cồn trùng khi di chuyển.

Phòng trừ bệnh thối rữa cho địa lan: tránh tưới quá nhiều nước và đề vườn lan đủ ánh sáng, thông thoáng. Khi mới phát bệnh, nên dùng dao đã khử trùng cắt bỏ phần bị bệnh và dùng loại thuốc có chứa 70% Mn và Zn pha loãng 1/600-1/1.000.

3. Bệnh vi khuẩn thối nhũn ở địa lan

Bệnh vi khuẩn thối nhũn còn gọi là bệnh đốm nâu, là loại bệnh do vi khuẩn gây hại. Bệnh vi khuẩn thối nhũn hại lá, mầm và thân già, lá. Sau khi bị nhiễm bệnh giai đoạn đầu xuất hiện các vệt như nước đọng, sau biến thành màu nâu hoặc màu đen và lan ra rất nhanh, thành những mảng thối nhũn chảy nước, bệnh lan truyền theo nước tưới hoặc nước mưa. Nếu như thân già bị nhiễm bệnh cũng xuất hiện các hạt nước đọng, sau đó xuất hiện các vết bệnh màu nâu hoặc màu đen, cuối cùng mềm nhũn, thối rất nhanh. Mầm non thường bị nhiễm bệnh vào đầu mùa hè, bệnh xâm nhập vào qua các vết đứt gẫy, sâu cắn, khi gặp mưa nhiều, môi trường không thông thoáng bệnh sẽ rất nặng và lan ra rất nhanh chỉ cần 3-5 ngày toàn bộ lá bị thối nhũn kể cả lá non cũng như lá già. Bất cứ mùa nào trong năm cũng có thể phát bệnh nhưng mùa đông giảm hơn một chút, ở những bộ phận nhiễm bệnh đã bị phân giải chỉ cần va nhẹ đã có dịch chảy ra đồng thời có mùi tanh của cá, khi nhỏ vài giọt dịch đó vào chén nước thấy ngay nước đục tỏa ra xung quanh.

Phòng trừ bệnh thối rữa do vi khuẩn cần chú ý môi trường khi thoát nước tốt, ánh sáng đầy đủ. Các loại thuốc thường ít tác dụng với loại bệnh này, cho nên tốt nhất là loại bỏ cây bị bệnh.

 
4. Bệnh thối rễ

Bệnh thối rễ còn gọi là bệnh khô héo, do khuẩn thể gây nên, ngoài địa lan còn làm hại các loại cây khác. Rễ cây bị thối do một loại khuẩn hình sợi. Đây là loại vi khuẩn hại rất nặng đối với địa lan. Bệnh gây hại trên tất cả các giai đoạn của địa lan nhưng hại nặng nhất là ở cây mới trồng, tưới nước quá nhiều. Bệnh thường xuất hiện sớm nếu như không bị khống chế kịp thời có thể lan đến thân giả rồi đến lá. Trong quá trình phát triển, hình thành vết thối rữa màu nâu vòng quanh gốc cây, làm cho cây bị chết. Cây to bị nhiễm bệnh sẽ suy yếu dần, đầu tiên chỉ làm cho rễ bị thối rữa sau đó làm cho cây bị chết. Cũng có trường họp lại lan đến thân giả làm cho sinh trưởng của cây bị suy thoái, thân giả và lá đều bị vàng, yếu ớt, cong queo khô héo rồi bị chết.

Để phòng trừ loại bệnh này cần chú ý đến điều kiện thông thoáng giảm số lần tưới nước. Trong mùa hè nhiệt độ cao, mưa nhiều, hàng ngày cần phải chú ý quan sát phát hiện kịp thời và sừ dụng các biện pháp phòng trừ thích hợp. Khi phát hiện cây mới bị bệnh nhẹ phải dùng thuốc trừ khuẩn để phun, cũng có thể ngâm rễ lan bằng thuốc tím hoặc tưới vào gốc từ 2 – 3 lần, cách 1 tuần 1 lần cho hiệu quả khá tốt. Đồng thời nên thay chậu và giá thể khi thay chậu phải cắt bỏ rễ bị thối, sau khi thay chậu hạn chế tưới nước nhằm giảm khả năng bệnh tái phát. Khi cây bị bệnh nặng phải lập tức loại để bỏ tránh lây lan.

5. Bệnh khô lá


Bệnh khô lá là loại bệnh do khuẩn hình gậy tròn gây hại hay phát sinh ở đuôi lá hoặc phía trước của phiến lá hoa địa lan. Ban đầu xuất hiện những đốm nhỏ lớn rất nhanh, lúc đầu là các đốm màu nâu đen dạng giọt nước đọng rồi chuyển sang mầu nâu đen, giữa có màu xám nhạt, các vết bệnh to có đốm đen nhỏ, khi nặng sẽ lan ra cả phiến lá làm cho lá bị chết khô. Mùa xuân có mưa phùn trong điều kiện nhiệt độ, độ ẩm cao, thông thoáng kém, ánh sáng thiếu thì bệnh càng nặng.

Phòng trừ bệnh: cần cắt bỏ ngay những lá khô đem tiêu hủy tập trung, đồng thời có thể phun thay đổi các loại thuốc trừ khuẩn.

6. Bệnh đốm tròn


Bệnh đốm tròn là loại bệnh hại khá nghiêm trọng do 1 loại vi khuẩn gây nên. Nó qua đông bằng các nội khuẩn hoặc bào tử. Bệnh phát sinh nhiều ở bộ phận giữa và dưới của lá, thường gây hại trên các cây sinh trưởng yếu, đặc biệt các vườn lan trong điều kiện thiếu ánh sáng kéo dài, ít thông thoáng thì bệnh càng phát triển mạnh hơn. Cây địa lan sau khi bị nhiễm bệnh ban đầu xuất hiện những đốm nhỏ màu nâu đỏ, sau lan dần thành các đốm tròn hoặc giữa hình tròn (ở mép lá) rồi thành đốm màu nâu đen, giai đoạn cuối giữa phần lớn chuyển thành mầu nâu nhạt, vết bệnh khá lớn, mép lá vàng thể hiện rõ ờ 2 mặt lá, khi nặng vết bệnh phủ kín lá và làm cho lá bị chêt khô.

Để phòng trừ bệnh đốm tròn, ngoài biện pháp cắt bỏ lá bệnh đem tiêu huỷ tập trung, còn có thể dùng các loại thuốc trừ khuẩn như: Boocđo, Benlat để phun liên tục 3 – 4 lần cách 10-15 ngày phun 1 lần vào mùa xuân và mùa thu.

7. Bệnh muội đen


Bệnh này xuất hiện khi vườn lan bị thiếu ánh sáng, thông thoáng kém, một số loại sâu như rệp, khi bám vào cây lan chúng tiết ra loại dịch, tạo điều kiện cho vi khuẩn cộng sinh hình thành bệnh, loại khuẩn này ít gây hại cho cây lan nhưng khi trên lá bị phủ bề lớp muội đen sẽ ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của toàn cây, làm cho cây sinh trưởng kém, giá trị thẩm mỹ bị giảm.

Phòng trừ bệnh: tạo môi trường thông thoáng cho cây, tiêu diệt các loại sâu hại và định kỳ lau lá bệnh bằng khăn mặt ướt nhằm loại bỏ vi khuẩn bám ở đó.

8. Bệnh hoa lá do Vi rut gây bệnh.

Bệnh này còn gọi là bệnh vi rut hoại tử, bệnh hoại tử vệt đen, bệnh này do sự xâm nhiễm của vi rut hoa lá ngọc lan (CYMV) và vi rut hoa lá thuốc lá (TMV) gây nên, đây loại bệnh thường thấy xuất hiện ở hoa địa lan. Loại vi rut này có trên 70 ký chủ thuộc họ lan, có thể tồn tại lâu với tính chất ổn định trong nhựa cây. Bởi vậy khi thay chậu hoặc tách cây để trồng trong đó có những cây đã nhiễm bệnh nhựa cây của cây bệnh sẽ bám vào dụng cụ, giá thể truyền cho cây khác, rồi qua vết cắt thâm nhập vào sống trong tế bào khỏe mạnh tạo ra nguồn lây nhiễm. Trồng hoa lan tại gia đình do không gian hạn hẹp, bố trí chậu quá dày, lá cây nọ chồng lên lá cây kia và do tác động của cơ giới làm cho lá các cây lan cọ sát vào nhau tạo ra các vết thương, cũng có người trồng lan muốn tiết kiệm diện tích mà sắp xếp các chậu lan theo hình khối khi tưới nước ở tầng trên nước thừa rơi xuống tầng dưới, làm cho vi rut lan truyền rồi xâm nhập qua vết thương. Do môi trường sinh trưởng khác nhau mà xuất hiện triệu chứng bệnh không giống nhau, thông thường vết bệnh xuất hiện thành vệt dài hoại tử dưới mặt lá làm cho lá bị chết, nhưng hoa vẫn không có triệu chứng bệnh. Sau khi nhiễm khoảng 3 tuần mầm non xuất hiện đốm màu vàng lộn xộn, sau đó lá càng lớn thì càng nhiều đốm và rõ hơn, tiếp đó là những đốm hoại tử màu nâu hoặc nâu xám. Cũng có những giống sau khi nhiễm bệnh xuất hiện các vệt màu vàng hình chữ nhật, sau đó thành hoại từ màu đen lan khắp phiến lá.

Bệnh vi rut hại địa lan cũng như các loại cây khác, với trình độ khoa học kỹ thuật hiện nay vẫn chưa có được biện pháp phòng trừ có hiệu quả, bởi vậy phải thường xuyên quan sát khi phát hiện có cây khả nghi nên lập tức cách ly hoặc tiêu huỷ. Để phòng trừ lây nhiễm, cần cải thiện vệ sinh môi trường, phun thuốc định kỳ diệt côn trùng khử trùng dụng cụ. Hiện nay thường dùng các loại dung dịch khử trùng như Foocmalin 2% và Hyđroxit Natri 2%, đều cho hiệu quả khá tốt. Không được mua những cây đã nhiễm bệnh hoặc nghi có bệnh, không được dùng các bộ phận của cây có bệnh hoặc khả nghi mang bệnh để nhân giống, cần kiểm tra vi rut đối với những cây làm giống xác định chính xác không nhiễm bệnh mới được sử dụng.
Cách chuẩn đoán bệnh do virut gây ra ở địa lan

Địa lan bị nhiễm vi rut mà sinh bệnh gọi là bệnh vi rut địa lan. Hiện nay đã phát hiện ít nhất là 6 loại như: ROSV, CYSV, CYMV, CYRV, CRV, CMV thuộc họ Roty vi rut. Nhiễm loại vi rut ROSV lá địa lan xuất hiện màu đỏ tía, cánh hoa có những đốm mầu nhạt. Nhiễm loại vi rut CYMV trên lá xuất hiện đốm màu vàng nhạt theo vệt dài hoặc hoại tử, cánh hoa có vết hoại tử, cũng có lúc triệu chứng bệnh trên hoa biểu hiện không rõ rệt. Cây địa lan khi bị ROMV và CYMV cùng xâm nhiễm trên lá xuất hiện vân khảm.

Vi rut CMV làm cho lá bị vàng, còn cánh hoa màu nhạt và dị hình. CYRV và CRV làm cho lá có vệt màu vàng đốm hoại tử hoặc vàng từng mảng, cánh hoa màu nhạt hoặc có vết hoại tử. Còn loại paly virut sau khi xâm nhập làm cho lá xuất hiện vân khảm hoặc dị dạng và làm cho hoa bị mất màu. Trong đó phổ biến nhất là các bệnh do vi rut CYMV, ROSV và CMV. Sau đó cây địa lan bị nhiễm bệnh sẽ lan truyền tất cả các bộ phận của cây làm cho cây sinh trưởng chậm, trên lá xuất hiện các vết vàng, hoặc thành mảng mất màu lõm xuống, đôi khi xuất hiện các vết dài hoại tử. Trên hoa hình thành những vệt dài, mảng màu sắc không giống nhau, thậm chí trở thành dị dạng, hoại tử, rụng sớm, ảnh hưởng lớn đến giá trị thương phẩm của hoa. Tuy nhiên phản ứng đối với bệnh vi rut còn tùy thuộc vào họ lan, có một số họ lan mặc dù đã nhiễm bệnh nhưng không xuất hiện triệu chứng có rất nhiều họ lan triệu chứng bệnh ở những cây non không nặng khi cây trưởng thành mới dần dần xuất hiện triệu chứng bệnh.

Có một số triệu chứng bệnh do vi rut gây ra ở cây địa lan rất khó phân biệt với trạng thái dị thường do bệnh sinh lý của cây địa lan, do đó làm cho người ta rất khó chẩn đoán và phòng trừ bệnh do vi rut gây ra. Hiện nay đang có các phương pháp kiểm định bệnh virut như phương pháp sinh vật truyền thống và phương pháp dùng kính hiển vi điện tử, kính hiển vi quang học và phương pháp kháng huyết thanh. Phương pháp kiểm định sinh học trước đây có tốn nhiều công sức và thời gian. Phương pháp kính hiển vi điện tử do thiết bị quá đắt nên không phổ cập, phương pháp hiển vi quang học lại đòi hỏi phải có kinh nghiệm mới chẩn đoán chính xác. Trong các phương pháp thì phương pháp huyết thanh được dùng rộng rãi hơn, không yêu cầu nhiều kinh nghiệm cũng có thể đọc kết quả từ máy một cách khách quan chính xác, nhưng pha chế huyết thanh hơi khó, chi phí khá cao.

Bệnh tuyến trùng

Bệnh tuyến trùng địa lan là một trong những loại bệnh thường gặp do tuyến trùng gây ra. Tuyến trùng là loại động vật nhiều tế bào ký sinh chỗ giàu dinh dưỡng, rất nhỏ kích thước 1 mm thuộc dạng bán trong suốt, chỉ quan sát được tuyến trùng bằng kính hiển vi. Thông thường con cái hình quả bí, con đực dạng sợi, ưa ẩm gây hại cho địa lan vào mùa mưa khi nhiệt độ cao. Nguồn tuyến trùng gây bệnh đối với địa lan vẫn là tuyến trùng lưỡi kiềm, nó ký sinh trên lá làm cho lá vàng hoặc đốm nâu làm cho lá bị khô héo thậm trí bị rụng, do đó làm cho cây sinh trưởng chậm, phát triển không tốt, ký sinh ở mầm hoa có thể làm cho mầm hoa bị khô héo không hình thành nụ, còn ký sinh ở rễ làm cho rễ xuất hiện những chuỗi hạt liên kết hoặc nốt sần nhỏ trong nốt sần có những hạt tròn, hoặc làm cho rễ bị tổn thương xung quanh vết thương xuất hiện rễ tơ ngắn nhỏ khiến cho bộ phận trên mặt đất sinh trưởng kém, lá nhỏ, ít lá, màu vàng, khi bị bệnh nặng có thể làm chết cả cây.

Để phòng trừ bệnh tuyến trùng ở địa lan trước hết phải loại trừ nguồn bệnh, nhổ bỏ và tiêu hủy những cây bị nặng, những cây nhẹ cắt bỏ phần lá, rễ bị bệnh, phần còn lại ngâm vào nước nóng ở 50°C trong thời gian 10 phút hoặc 55°C trong thời gian 5 phút. Làm sạch giá thể bằng thuốc sát trùng. Nếu như cần chuyển cây bệnh ở nơi khác về thì giá thể phải được xử lý trước đó 2 tuần bằng các loại thuốc khử trùng.

Ngoài những bệnh trên địa lan còn có những bệnh như bệnh muội xám, bệnh héo hoa, bệnh thối rữa vi khuẩn, bệnh vi khuẩn đốm nâu, vi khuẩn thối hoa, vết bệnh đốm vòng.

Thứ Năm, 4 tháng 1, 2018

Cách trồng Địa lan đơn giản nhất

Cách trồng Địa lan đơn giản nhất

Hiện tại rất nhiều dòng Địa lan xứ nóng có mặt tại Việt Nam, qua một thời gian trồng và nghiên cứu cách trồng Địa lan của Thái lan, mình xin chia sẽ cách trồng như sau:

Hiện tại rất nhiều dòng Địa lan xứ nóng có mặt tại Việt Nam, tuy nhiên điều này làm cho nhiều bạn lúng túng vì trước nay trong miền Nam thường trồng lan Dendro hoặc những loại lan bằng cách trồng than hoặc ghép gỗ. Qua một thời gian trồng và nghiên cứu cách trồng Địa lan của Thái lan, mình xin chia sẽ cách trồng như sau:

- Đơn giản nhất là trồng chậu với sơ dừa (bột hay sơ dừa bánh cắt nhỏ ra đều được). Cây vẫn sống tốt và ra hoa.

- Cách hay nhất là dùng chậu kín lỗ bên hông, loại giống như chậu kiểng đang bán ngoài thị trường. Chậu phải thoát nước tốt, sau đó dùng một ít đá xanh nhỏ lót dưới đáy chậu (khoảng 2cm), để rễ cây không chui ra ngoài, mau có hoa.

- Lót một lớp mỏng phân chuồng như phân bò hay phân heo (1cm) đã ủ mục.

- Sau đó dùng hỗn hợp sơ dừa như trên trộn với vỏ đậu (nếu không có thì dùng sơ dừa không). Sau đó trồng bình thường như các loại lan khác. Cố định cây không cho lắc lư để cây mau ra rễ.
 


Chú ý:

- Sơ dừa chôn đến phân nữa củ, tưới nước từ từ nén chặt xuống là vừa.

- Cố gắng giử rễ cho nhiều khi tách chiết, sang chậu. Hạn chế cắt bỏ hết rễ

- Có thể dùng các chất trồng khác tùy theo địa phương có như: than nhỏ trộn với đá. Vỏ thông, đất nung, vỏ đậu phộng, đất sạch,…

- Khi mới trồng để chổ mát một tuần, sau đó đem ra lưới 50% ánh sáng. Trồng khoảng thời gian 1 tháng, cây sẽ ra rễ tốt, xanh tốt, lên con mới.

- Cách trồng này áp dụng được cho lan Hài, Kiếm, Chu đinh,… và những dòng lan đất khác.
Cách chăm sóc:

- Tưới nước như các loại lan khác, không được để khô chậu, giá thể nên lúc nào cũng ẩm, chờ hơi khô chút là tưới lại.

- Bón phân ưu tiên phân Hữu cơ.

- Tưới trừ nấm bệnh như các loại lan khác. Cây hay bị bệnh Thán thư (lá có đóm đen, lõm xuống). Dùng thuốc Carbenzim trị.
- Dùng phân tan chậm rất tốt cho Địa lan.